Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại - Chương 2: Thực trạng kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á - Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm kiểm toán nội bộ Kiểm toán nội bộ (KTNB) trên thế giới ra đời khá sớm và ngày càng phát triển gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thị trường.
Tuy nhiên, phải đến năm 1941 khi một nhóm các nhà kiểm toán nội bộ đứng ra thành lập IIA (The Institute of Internal Auditors), Viện kiểm toán nội bộ, thì KTNB mới được công nhận như là một nghề nghiệp chính thức. Năm 1944, IIA định nghĩa KTNB là “hoạt động đánh giá độc lập trong trong một tổ chức về công tác kế toán, tài chính và các công tác khác của tổ chức đó. Hoạt động KTNB được xem như là các dịch vụ mang tính bảo vệ và xây dựng hỗ trợ cho ban giám đốc”. Như vậy, lúc mới ra đời, công việc của KTNB chủ yếu để hỗ trợ Ban giám đốc trong việc nhận xét về tính trung thực hợp lý của các thông tin kế toán và một số thông tin khác.
Thực tế, công việc của KTNB lúc này không khác nhiều so với kiểm toán độc lập mà chủ yếu nó là một bộ phận trực thuộc đơn vị. Sau nhiều lần sửa đổi bổ sung, thì đến tháng 10/2010 thì IIA đã đưa ra một định nghĩa mới (áp dụng từ ngày 01/01/2011) thể hiện đúng bản chất của KTNB là “hoạt động xác nhận và tư vấn mang tính độc lập, khách quan được thiết lập nhằm tạo ra giá trị gia tăng, nâng cao hiệu quả hoạt động của một tổ chức. Kiểm toán nội bộ giúp cho tổ chức đạt được các mục tiêu của mình thông qua việc tạo ra một cách tiếp cận có hệ thống, có tính kỷ luật để đánh giá, nâng cao hiệu lực của quy trình quản trị doanh nghiệp, quy trình kiểm soát và việc quản lý rủi ro”(IIA, Code of Ethic). Thông qua định nghĩa này chúng ta có thể hình dung KTNB với 4 đặc trưng cơ bản sau: 7 Thứ nhất, KTNB là một hoạt động độc lập, khách quan.
Chính vì vậy nó phải là một bộ phận độc lập với tổ chức và cần thiết thì có thể thuê các KTV bên ngoài để thực hiện hoạt động KTNB. Thứ hai, vai trò của KTNB là xác nhận và tư vấn cho nhà quản lý với phạm vi hoạt động bao quát liên quan đến quy trình quản trị doanh nghiệp, quy trình kiểm soát và quản lý rủi ro. Như vậy, kiểm toán viên nội bộ chính là chuyên gia duy nhất giúp cải thiện được ba hệ thống này nhằm đạt được các mục tiêu: tăng cường đạo đức và các giá trị cốt lõi trong doanh nghiệp, đảm bảo hoạt động của tổ chức hiệu quả và minh bạch, truyền thông hiệu quả về rủi ro và kiểm soát tới các bộ phận thích hợp trong tổ chức và điều phối mối quan hệ giữa ban quản lý, kiểm toán độc lập, kiểm toán nội bộ và hội đồng quản trị. Thứ ba, mục tiêu của KTNB là tạo ra giá trị gia tăng và cải thiện hoạt động của tổ chức.
Đây chính là đóng góp nổi bật của KTNB theo định nghĩa mới, luôn hướng đến lợi ích của tổ chức và cố gắng để làm cho mọi việc tốt hơn chứ không đóng vai trò là người điều tra và xử lý vi phạm. Thứ tư, yêu cầu của KTNB phải có một hệ thống chuẩn mực chuyên nghiệp và có thể thực hiện công việc với chất lượng dịch vụ cao nhất bằng cách “tiếp cận có tính kỷ luật và tính hệ thống”. Tại Việt Nam, quy chế KTNB trong các doanh nghiệp nhà nước được ban hành tại quyết định số 832-TC/QĐ-CĐKT của Bộ Tài chính ngày 28/10/1997 vẫn chưa giải thích kiểm toán nội bộ là gì. Theo dự thảo nghị định về Kiểm toán nội bộ năm 2016 của Chính phủ đang được lấy ý kiến thì KTNB là “việc kiểm tra, đánh giá giám sát tính đầy đủ, thích hợp và hữu hiệu của kiểm soát nội bộ”.
Trong đó, kiểm soát nội bộ là việc thiết lập và tổ chức thực hiện trong nội bộ đơn vị kế toán các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ phù với với quy định của pháp luật nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra. Cho thấy tại Việt Nam 8 vai trò của KTNB vẫn chưa được nhìn nhận một cách toàn vẹn chủ yếu tập trung vào hệ thống kế toán cũng như rủi ro của các quy trình quy định của đơn vị. Một số người thường dễ nhầm lẫn giữa “kiểm toán nội bộ” và “kiểm soát nội bộ”. Tuy nhiên, như định nghĩa đưa ra ở trên thì “kiểm soát nội bộ” chính là các cơ chế chính sách, quy trình, quy định nội bộ được thiết kế tuân thủ quy định pháp luật và phù hợp với hoạt động của doanh nghiệp nhằm tạo ra các chốt kiểm soát giúp phòng ngừa rủi ro cũng như phát hiện và xử lý kịp thời các rủi ro cùng với đó là giúp doanh nghiệp đạt được những mục tiêu đặt ra trong hoạt động.
Còn “kiểm toán nội bộ” là bộ phận thường nằm trong doanh nghiệp nhằm giúp nhà quản lý kiểm tra, đánh giá cũng như giám sát tính đầy đủ, thích hợp và hữu hiệu của những quy trình, quy chế, chính sách đó. Chuẩn mực kiểm toán nội bộ Để kiểm tra, đánh giá và tư vấn cho tổ chức nhằm giảm thiểu rủi ro tiềm ẩn cũng như tạo ra giá trị gia tăng của tổ chức KTNB cần có một hệ thống các nguyên tắc cơ bản về nghiệp vụ và về việc xử lý các mối quan hệ phát sinh trong quá trình kiểm toán chính là hệ thống chẩn mực kiểm toán nội bộ. Cho đến nay, Viện kiểm toán nội bộ Hoa Kỳ vẫn là cơ quan duy nhất ban hành một cách đầy đủ và chỉnh sửa thường xuyên các chuẩn mực kiểm toán nội bộ nhằm áp dụng hoặc tham khảo trên thế giới. Bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ năm 2017 được ban hành tháng 10/2016 và áp dụng từ 01/01/2017, gồm có 41 chuẩn mực chia thành 6 nhóm chính có tác dụng đưa ra các nguyên tắc cơ bản tiêu biểu cho việc hành nghề kiểm toán nội bộ (IIA, International standards for the professional practice of internal auditing, 2016).
- Nhóm chuẩn mực về mục tiêu, quyền hạn, trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp kiểm toán nội bộ (Nhóm chuẩn mực 1000 – Mục đích, trách nhiệm và quyền hạn, 1110 – Độc lập về tổ chức, 1120 – Khách quan, 1130 – Những tình huống làm ảnh hưởng đến tính độc lập và khách quan, 1200 – Trình độ chuyên môn thành thạo. 9 - Nhóm chuẩn mực về quản lý chất lượng kiểm toán nội bộ số 1300 – Đánh giá chất lượng kiểm toán. - Nhóm chuẩn mực về quản lý hoạt động kiểm toán nội bộ số 2000, trong đó có các chuẩn mực về 2010 - Lập kế hoạch, 2020 - Trao đổi thông tin và phê duyệt, 2030 - Quản lý các nguồn lực, 2040 - Các chính sách và quy trình, 2050 - Hợp tác, 2060 -Báo cáo cho các nhà quản lý cấp cao. - Nhóm chuẩn mực về bản chất hoạt động kiểm toán nội bộ số 2100 bao gồm: 2110 – Hệ thống quản trị rủi ro, 2120 – Quản lý rủi ro, 2130 – Kiểm soát.
- Nhóm chuẩn mực về quy trình thực hiện một cuộc kiểm toán gồm: 2200 – Lập kế hoạch kiểm toán, 2300 – Thực hiện kiểm toán, 2400 – Trao đổi thông tin về kết quả kiểm toán, 2500 – Giám sát sau kiểm toán. - Nhóm chuẩn mực về quyết định chấp nhận rủi ro của các nhà quản lý cấp cao số 2600. Ngoài các chuẩn mực kiểm toán nội bộ này, IIA còn ban hành cuốn “Tư vấn thực hành” chuẩn mực kiểm toán nội bộ phát hành tháng 05/2015 dựa trên bộ chuẩn mực kế toán năm 2013 để mô tả và giải thích rõ về các chuẩn mực kiểm toán nội bộ. Hiện tại, Bộ tài chính chưa ban hành chuẩn mực kiểm toán nội bộ làm cơ sở cho việc thực hiện kiểm toán nội bộ tại Việt Nam.
Quy tắc đạo đức của kiểm toán nội bộ Quy tắc đạo đức do IIA (IIA, Code of Ethic) ban hành yêu cầu kiểm toán viên nội bộ (KTVNB) cần áp dụng và duy trì những quy tắc đạo đức cần thiết sau: - Chính trực: là cở sở để tạo ra sự tin cậy trong các đánh giá của KTVNB. Để đảm bảo được điều này, KTNB cần: • Thực hiện công việc với sự trung thực, cẩn thận và có trách nhiệm. • Phải tuân thủ luật pháp và phải tiết lộ thông tin khi luật pháp và các quy định nghề nghiệp yêu cầu. 10 • Không được tiến hành riêng một cách có chủ ý các hoạt động phi pháp hoặc dấn thân vào các hành động gây mất danh dự đối với nghề kiểm toán hoặc đối với tổ chức.
• Phải tuân thủ và đóng góp cho các mục tiêu đạo đức và hợp pháp của tổ chức. - Khách quan: các KTVNB thể hiện mức độ khách quan nghề nghiệp cao nhất khi thu thập, đánh giá và truyền tải các thông tin liên quan đến hoạt động hoặc quy trình được xem xét. Các KTVNB đánh giá một cách công minh tất cả các yếu tố chuẩn xác và trong quá trình đánh giá không để bị ảnh hưởng bởi các lợi ích cá nhân hoặc bởi người khác. • Không thiết lập các mối quan hệ có thể làm nguy hại đến tính chất khách quan của các báo cáo kiểm toán.
• Không được chấp nhận bất cứ thứ gì có thể làm nguy hại hoặc gây nguy cơ làm sai lệch các đánh giá chuyên môn của mình. • Phải công bố tất cả các sự kiện trọng yếu và đó là các sự kiện nếu không được công bố sẽ có thể gây ra hậu quả là làm sai lệch báo cáo về các hoạt động được xem xét. - Bảo mật: KTVNB cần tôn trọng giá trị và tính riêng biệt của các thông tin nhận được, không công bố các thông tin này khi không được phép trừ khi có quy định khác của pháp luật. Cụ thể là: • Phải thận trọng trong việc sử dụng và bảo vệ các thông tin có được trong quá trình làm nhiệm vụ.