Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNGKIỂM TRA, KIỂM SOÁT THỊ TRƯỜNG TẠICHI CỤC QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG 1. Cơ sở lý luận về chất lượng hoạt động kiểm tra, kiểm soát thịtrường 1. Hoạt động kiểm tra, kiểm soát thị trường 1. Khái niệm về thị trường Trên thế giới có rất nhiều định nghĩa về thị trường, theo C.Mác:“Hàng hoá là sản phẩm được sản xuất ra không phải cho người sản xuất tiêu dùng mà người sản xuất ra để bán.
Thị trường xuất hiện đồng thời với sự ra đời và phát triển của nền sản xuất hàng hoá và được hình thành trong lĩnh vực lưu thông. Người có hàng hoá hoặc dịch vụ đem ra trao đổi gọi là bên bán, người mua có nhu cầu chưa thoả mãn và có khả năng thanh toán được gọi là bên mua.”[4] Trong kinh tế học và kinh doanh, thị trường là nơi người mua và người bán (hay người có nhu cầu và người cung cấp) tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với nhau để trao đổi, mua bán hàng hóa và dịch vụ. Thị trường là nơi chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm, dịch vụ hoặc tiền tệ, nhằm thỏa mãn nhu cầu của hai bên cung và cầu về một loại sản phẩm nhất định theo các thông lệ hiện hành, từ đó xác định rõ số lượng và giá cả cần thiết của sản phẩm, dịch vụ. Thực chất, thị trường là tổng thể các khách hàng tiềm năng cùng có một yêu cầu cụ thể nhưng chưa được đáp ứng và có khả năng tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu đó.
Thị trường là một tập hợp những người mua và người bán tác động qua lại lẫn nhau, dẫn đến khả năng trao đổi. Thị trường là nơi diễn ra các hoạt động mua và bán một thứ hàng hóa nhất định nào đó. Theo định nghĩa này, thị trường bao gồm nhiều loại hàng hóa khác nhau như: thị trường gạo, thị trường cà phê, thị trường chứng khoán, thị trường vốn, v. Cũng có một nghĩa hẹp khác của thị trường là một nơi download by : skknchat@gmail.com 5 nhất định nào đó, tại đó diễn ra các hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ.
Với nghĩa này, có thị trường Hà Nội, thị trường miền Trung… Còn trong kinh tế học, thị trường được hiểu rộng hơn, là nơi có các quan hệ mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa vô số những người bán và người mua có quan hệ cạnh tranh với nhau, bất kể là ở địa điểm nào, thời gian nào. Thị trường trong kinh tế học được chia thành ba loại: thị trường hàng hóa - dịch vụ (còn gọi là thị trường sản lượng), thị trường lao động, và thị trường tiềntệ. Dựa trên các khái niệm có thể rút ra: Thị trường là nơi diễn ra hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ, tiền tệ … nhằm thỏa mãn nhu cầu của hai bên cung và cầu ở bất kỳ thời gian và địa điểm nào.Khái niệm về kiểm tra, kiểm soát thị trường Kiểm tra là “xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét”, để chỉ hoạt động của chủ thể tác động vào đối tượng kiểm tra (có thể trực thuộc hoặc không trực thuộc). Tuy nhiên, khái niệm kiểm tra (control) có thể được hiểu theo 2 nghĩa: Theo nghĩa rộng, để chỉ hoạt động của các tổ chức xã hội, các đoàn thể và của công dân kiểm tra hoạt động bộ máy của nhà nước.
Theo nghĩa hẹp hơn, kiểm tra là hoạt động của chủ thể nhằm tiến hành xem xét, xác định một việc gì đó của đối tượng bị quản lý xem có phù hợp hay không phù hợp với trạng thái định trước (kiểm tra mang tính nội bộ của người đứng đầu cơ quan, kiểm tra phương tiện giao thông…).[12] Xét về chủ thể thì phạm vi chủ thể tiến hành hoạt động kiểm tra rất đa dạng và phức tạp. Chủ thể tiến hành kiểm tra có thể là Nhà nước hoặc cũng có thể là một chủ thể phi Nhà nước, chẳng hạn như hoạt động kiểm tra của một tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội (Đảng, Công đoàn, Mặt trận, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ…), hoạt động kiểm tra trong nội bộ một doanh nghiệp: kiểm tra của Giám đốc đối với các phòng, ban, kiểm tra của Quản đốc đối với người lao động. Trên một bình diện rộng hơn nữa, kiểm tra có thể là sự xem xét thực tế để đánh giá, nhận xét của bất kỳ một cá nhân nào trong xã download by : skknchat@gmail.com 6 hội trong bất cứ một hoạt động nào. Khi con người biết lao động một cách có ý thức thì đã xuất hiện yêu cầu tất yếu là phải kiểm tra.
Ăng ghen đã nói “mỗi hoạt động có ý thức, có tổ chức của con người đều chứa đựng trong đó những yếu tố của kiểm tra” và “đối với mỗi con người tự nhiên, mỗi cộng đồng nguyên thuỷ, kiểm tra được xem như là phương thức hành động để thực hiện mục đích”. Như vậy, kiểm tra xuất hiện trước khi có sự ra đời của Nhà nước đầu tiên trong lịch sử. Có thể nói, kiểm tra sẽ tồn tại cùng với loài người. Khi Nhà nước tự tiêu vong, thì kiểm tra vẫn còn tồn tại cùng với “chức năng quản lý đơn thuần là chăm lo đến lợi ích của xã hội” như Ăng ghen đã chỉ ra[4].
Kiểm tra gắn liền với công việc của một tổ chức, một cán bộ, công chức nhất định, trong thị thường nó gắn với các hộ kinh doanh, doanh nghiệp, thương lái…. Hoạt động này thường theo một số hướng sau: (i) Theo dõi để cho hoạt động của các hộ kinh doanh, doanh nghiệp phù hợp với quy định mà Nhà nước quy định; (ii) Quan sát để đảm bảo rằng mọi hoạt động của doanh nghiệp, hộ kinh doanhlà đúng quy định, đủ điều kiện tiếp tục hoạt động. Hướng dẫn và điều chỉnh kịp thời để đảm bảo mọi hoạt động diễn ra trongthị trường là tốt;(iii) Kiểm tra kết quả cuối cùng, đánh giá hiệu quả thực tế của các hoạt động theo kế hoạch đặt ra. Đối với thị trường, kiểm tra là hoạt động nhằm kiểm tra mọi hoạt động xảy ra trên thị trường bao gồm: các hoạt động mua bán, quy trình sản xuất, chế biến… Mọi hoạt động kiểm tra được căn cứ trên quy định mà Nhà nước đã đề ra.
Kiểm soát là hoạt động dựa trên những thông tin sẵn có từ đó đánh giá nhằm phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định và được đặt trong phạm vi quyền hành của đối tượng nào đó. Kiểm soát được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau bởi những nguồn khác nhau. Theo nguyên tắc quản trị cổ điển, kiểm soát là“control”, trong đó nhấn mạnh chữ kiểm soát bao hàm ý nghĩa“bạo lực”. Theo Đại Từ Điển Tiếng Việt do Bộ Giáo Dục và Đào Tạo - Trung Tâm Ngôn Ngữ và download by : skknchat@gmail.com 7 Văn Hoá Việt Nam do Nguyễn Như Ý chủ biên (1999) thì “kiểm soát” là kiểm tra, xem xét, nhằm ngăn ngừa những sai phạm các qui định.
Cụ thể hơn đây là công tác phát hiện các hoạt động không đúng quy định, không được hoàn tất từ đó làm căn cứ để đưa ra các mức xử phạt đối với người chịu trách nhiệm thi hành hoạt động này. Trong thời đại kinh tế mở hiện nay, từ “control”mang ý nghĩa kiểm soát nhưng được hiểu theo ý nghĩa nhẹ hơn hay còn được gọi là kiểm tra. Cũng theo Đại Từ Điển trên, “kiểm tra” được định nghĩa là xem xét thực chất, thực tế. Kiểm tra, như vậy, bao hàm sự hướng dẫn và huấn luyện nhiều hơn là trừng phạt[16].
Kiểm soát có chức năng là bao quát mọi hoạt động của thị trường theo những kế hoạch đã được đề ra. Hiệu quả của công tác kiểm soát được đánh giá khi các tiêu chuẩn (standards) được thiết lập, các thông tin (information) cần thiết để đo lường tiêu chuẩn được cung cấp đầy đủ, và đối tượng có hành động sửa sai (corrective action) khi cần thiết. Kiểm tra, kiểm soát là hoạt độngđánh giá các hoạt động thông qua các thông tin kỹ thuật, phương tiện, phương pháp và các hoạt động nhằm đảm bảo chất lượng của các hoạt động trong phạm vi quản lý theo đúng chuẩn mực nhất định. Nhiệm vụ chính của kiểm tra, kiểm soát là thực hiện đánh giá các sản phẩm, hoạt động có đạt theo chuẩn mực đã được đề ra trước đó hay không hoặc đánh giá việc thực hiện chất lượng trong thực tế của tổ chức, doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, kiểm tra, kiểm soát còn là hoạt động so sánh giữa chất lượng thực tế và chất lượng dựa theo tiêu chuẩn để phát hiện những sai lệch không phù hợp trong các hoạt động của các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức từ đó làm căn cứ đưa ra những biện pháp khắc phục sai lệch đó. Khi thực hiện kiểm tra, kiểm soát các kết quả thực hiện kế hoạch cần đánh giá một cách độc lập những vấn đềsau: + Kế hoạch có được tuân theo một cách đúng quy định không? + Kế hoạch đề ra đã đạt được hiệu quả hay chưa? download by : skknchat@gmail.com 8 Nếu mục tiêu không đạt được có nghĩa là một trong hai hoặc cả hai điều trên đều không được thoảmãn Từ phân tích trên, ta có khái niệm “kiểm tra, kiểm soát thị trường là hoạt động xem xét tình hình thực tế thị trường, đánh giá, nhận xét về thị trường, qua đó phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định về quản lý thị trường và là một chức năng thiết yếu và quan trọng nhất trong công tác Quản lý thịtrường”. Theo Luật Thương mại thì kiểm tra, kiểm soát thị trường chính là hoạt động phòng chống buôn lậu, hàng giả, hàng cấm, vi phạm sở hữu trí tuệ, vệ sinh an toàn thực phẩm và gian lận thương mại. Vậy,Chấtlượngkiểmtra,kiểmsoátthịtrườnglàkhảnăngcủahoạtđộngxem xét, đánh giá, phát hiện, ngăn chặn, xử lý những gì trái với quy định về thị trường nhằmđápứngcácyêucầucủaCơquanquảnlýthịtrườngvàcácbênliênquan.
Trên thực tế hai khái niệm kiểm tra và kiểm soát không tách rời nhau, chúng ta thường dùng chung một cụm từ kiểm tra, kiểm soát thị trường để chỉ một hoạt động giám sát của cơ quan quản lý thị trường đối với các hoạt động, giao dịch trên thị trường như sản suất, kinh doanh mua bán, trao đổi hàng hóa, giao dịch thương mại…, nhằm bảo đảm những quy định về pháp luật thương mại, thị trường được thực thi nghiêm minh trong đời sống kinh tế - xã hội. Mục tiêu của hoạt động kiểm tra, kiểm soát thịtrường Nền kinh tế phát triển theo xu hướng hội nhập thế giới, điều này giúp mở rộng quan hệ giữa các doanh nghiệp trong nước với các tập đoàn quốc gia cũng như là các hoạt động xuất nhập khẩu của một quốc gia.