phần mở đầu và kết luận, đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ thu,chi ngân sách trong các đơn vị sự nghiệp có thu. Chƣơng 2: Thực trạng kiểm soát nội bộ thu,chi ngân sách tại UBND Xã Cát Chánh, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng kiểm soát nội bộ thu,chi ngân sách tại UBND Xã Cát Chánh, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định e 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ THU, CHI NGÂN SÁCH TRONG CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH 1. Tổng quan về kiểm soát nội bộ 1. Lịch sử ra đời và phát triển của các lý thuyết kiểm soát nội bộ Khái niệm KSNB xuất hiện đầu tiên trong các tài liệu kiểm toán vào những năm đầu thế kỷ 20.
Lúc này, KSNB đƣợc nhắc đến nhƣ là một công cụ bảo vệ tiền khỏi sự biển thủ của nhân viên. Cùng sự phát triển theo thời gian, đến năm 1936, trong một công bố của Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA), KSNB đƣợc mở rộng là các biện pháp và cách thức đƣợc chấp nhận và đƣợc thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và tài sản khác, cũng nhƣ kiểm tra sự chính xác trong ghi chép số sách. Năm 1949, AICPA lại công bố công trình nghiên cứu: “Kiểm soát nội bộ, các nhân tố cấu thành và tầm quan trọng đối với việc quản trị doanh nghiệp và đối với kiểm toán viên độc lập”. Trong báo cáo này, AICPA đã mở rộng KSNB còn nhằm mục đích thúc đẩy hoạt động có hiệu quả, khuyến khích sự tuân thủ các chính sách của nhà quản lý.
Năm 1958, Ủy ban thủ tục kiểm toán (CAP) trực thuộc AICPA ban hành báo cáo về thủ tục kiểm toán số 29: “Phạm vi xem xét kiểm soát nội bộ của kiểm toán viên độc lập”, trong đó lần đầu tiên phân biêt KSNB về quản lý và KSNB về kế toán. Những năm sau đó, AICPA tiếp tục sàng lọc, ban hành và sửa đổi các chuẩn mực về đánh giá của kiểm toán viên độc lập về KSNB. Đặc biệt vào năm 1977, khái niệm KSNB xuất hiện trong một văn bản luật. Đó là đạo luật chống hành vi hối lộ nƣớc ngoài, trong đó nhấn mạnh vai trò của KSNB nhằm ngăn ngừa những khoản thanh toán bất hợp pháp.
Luật này ra đời xuất phát từ việc ngày càng có nhiều vụ gian lận gây tổn e 7 thất lớn cho nền kinh tế, điển hình là vụ tai tiếng chính trị Watergate. Theo đó, Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ (SEC) cũng đƣa ra điều luật bắt buộc các công ty phải công bố báo cáo về KSNB tại đơn vị mình. Yêu cầu này càng đòi hỏi phải có tiêu chuẩn đánh giá tính hữu hiệu của KSNB. Năm 1985, hội đồng quốc gia chống gian lận báo cáo tài chính Hoa Kỳ (thƣờng gọi là Ủy ban Treadway) đƣợc thành lập.
Nhằm nghiên cứu về KSNB, Ủy ban COSO trực thuộc Ủy ban Treadway ra đời dƣới sự bảo trợ của năm tổ chức nghề nghiệp: - Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) - Hiệp hội Kế toán Hoa Kỳ (AAA ) - Hiệp hội Các nhà quản trị tài chính (FEI) - Hiệp hội Kiểm toán viên nội bộ (IIA) - Hiệp hội Kế toán viên quản trị (IMA) Năm 1992, COSO phát hành báo cáo gồm 4 phần: - Phần 1: tóm tắt dành cho nhà quản lý - Phần 2: khuôn khổ chung của KSNB - Phần 3: báo cáo cho bên ngoài - Phần 4: các công cụ đánh giá KSNB Báo cáo COSO 1992 là tài liệu đầu tiên trên thế giới đƣa ra khuôn mẫu về lý thuyết về KSNB một cách đầy đủ và có hệ thống. Trên cơ sở đó, hàng loạt các nghiên cứu về KSNB ở nhiều lĩnh vực ra đời, nhƣ: - Phát triển theo hƣớng quản trị: COSO nghiên cứu hệ thống đánh giá rủi ro doanh nghiệp ERM năm 2001 (ban hành chính thức năm 2004), hƣớng dẫn về giám sát hệ thống KSNB năm 2008. - Phát triển cho doanh nghiệp vừa và nhỏ: COSO 2006. - Phát triển theo hƣớng chuyên sâu vào ngành nghề cụ thể: COBIT do ISACA ban hành năm 1996, phát triển KSNB trong môi trƣờng công nghệ e 8 thông tin, hay báo cáo của Ủy ban Basel 1998 vận dụng KSNB trong ngân hàng và các tổ chức tín dụng.
- Phát triển theo hƣớng quốc gia: nhiều quốc gia trên thế giới đã xây dựng một khuôn khổ lý thuyết riêng về KSNB, nhƣ báo cáo Turnbull 1999 ở Anh… 1. Lịch sử ra đời và phát triển của KSNB trong khu vực công Trong lĩnh vực công, KSNB cũng đƣợc chính phủ các quốc gia đặc biệt quan tâm.Một số quốc gia nhƣ Mỹ và Canada đã phát triển và công bố các hƣớng dẫn về KSNB áp dụng cho các đơn vị công lập. Năm 1999, cơ quan kiểm toán Nhà nƣớc Hoa Kỳ (GAO) đã ban hành chuẩn mực về kiểm soát nội bộ trong chính quyền liên bang, có đề cập tới vấn đề KSNB đặc thù trong tổ chức công. Năm 1992, tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI) đã ban hành hƣớng dẫn về KSNB áp dụng cho khu vực công.Tài liệu này đã tích hợp các lý luận chung về KSNB của báo cáo COSO và những điểm đặc thù của khu vực công.
Năm 2001, INTOSAI đƣợc cập nhật và công bố vào năm 2004. Năm 1996, Kiểm toán Nhà nƣớc Việt Nam là thành viên chính thức của tổ chức INTOSAI. Đến năm 1997, Việt Nam tham gia Tổ chức các cơ quan kiểm toán tối cao Châu Á (ASOSAI). ASOSAI thành lập năm 1979, hiện nay có 45 thành viên.
Từ tháng 10/2009, Việt Nam là thành viên Ban điều hành tổ chức này nhiệm kỳ 2009 – 2012. INTOSAI đƣa ra 2 nhóm chuẩn mực về KSNB: chuẩn mực chung và chuẩn mực cụ thể. Chuẩn mực chung bao gồm các quy định về đảm bảo hợp lý; tinh thần tuân thủ; năng lực và phẩm chất; mục tiêu kiểm soát và giám sát. Chuẩn mực cụ thể đi vào các quy định về tổ chức hồ sơ, tài liệu; ghi thời và đúng đắn các nghiệp vụ; phân chia trách nhiệm; tiếp cận và báo cáo về e 9 nhân lực và sổ sách.
Khái niệm kiểm soát nội bộ theo INTOSAI 1992 và INTOSAI 2013 1. Theo hướng dẫn của INTOSAI năm 1992 Theo tài liệu hƣớng dẫn của INTOSAI 1992, khái niệm KSNB đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “KSNB là cơ cấu của một tổ chức, bao gồm nhận thức, phƣơng pháp, quy trình và các biện pháp của ngƣời lãnh đạo nhằm bảo đảm sự hợp lý để đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức”.Trong đó, mục tiêu của tổ chức bao gồm: - Thúc đẩy các hoạt động của đơn vị diễn ra có trình tự, đạt đƣợc tính hữu hiệu và hiệu quả trong việc thực hiện nhiệm vụ của đơn vị. - Bảo vệ các nguồn lực không bị thất thoát,tham ô, lãng phí và sử dụng sai mục đích. - Tuân thủ quy định của pháp luật và nội quy của đơn vị.
- Thiết lập và báo cáo các thông tin tài chính, thông tin quản lý kịp thời và đáng tin cậy. Theo hướng dẫn của INTOSAI năm 2013 INTOSAI 2013 định nghĩa về KSNB nhƣ sau: “KSNB là một quá trình bị chi phối bởi nhà quản lý và các nhân viên trong đơn vị, nó đƣợc thiết lập để đối phó với các rủi ro và cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt đƣợc các mục tiêu chung của tổ chức”. Theo đó, có 5 đặc điểm quan trọng cần làm rõ, đó là: - KSNB là một quá trình. KSNB không phải là từng hoạt động riêng rẽ mà là một chuỗi các hoạt động kiểm soát hiện diện ở mọi bộ phận trong đơn vị và đƣợc kết hợp với nhau thành một thể thống nhất.
Quá trình này là phƣơng tiện giúp đơn vị đạt đƣợc mục tiêu của mình. - KSNB chịu sự chi phối của con ngƣời. KSNB đƣợc thiết kế và vận hành bởi con ngƣời. Vì vậy, muốn hệ thống KSNB thực sự hữu hiệu và e 10 hiệu quả, tạo thành sức mạnh tổng hợp thì từng thành viên trong tổ chức phải hiểu đƣợc trách nhiệm, quyền hạn của mình và hƣớng các hoạt động của họ đến mục tiêu chung của tổ chức.
- KSNB đƣợc thiết lập để đối phó với rủi ro. Hoạt động của tổ chức luôn phải đối mặt với nhiều rủi ro tiềm ẩn. KSNB có thể giúp tổ chức nhận diên, chủ động phòng ngừa và đối phó với những rủi ro này, qua đó tối đa hóa khả năng đạt đƣợc mục tiêu. - KSNB cung cấp một sự đảm bảo hợp lý.
Trong tổ chức luôn có những rủi ro tiềm tàng và trong bản thân hệ thống KSNB cũng tồn tại những hạn chế tiềm tàng. Đó là sự phức tạp trong hoạt động của đơn vị, sự thông đồng của các cá nhân hay lạm quyền của nhà quản lý…Do đó, KSNB chỉ có thể cung cấp một sự đảm bảo hợp lý trong việc đạt đƣợc mục tiêu của đơn vị chứ không thể đảm bảo tuyệt đối. - Các mục tiêu của KSNB. Hoạt động của tổ chức luôn hƣớng về mục tiêu đề ra.
Ở khu vực công, mục tiêu thƣờng liên quan đến các dịch vụ công cộng và lợi ích cộng đồng, bao gồm: o Mục tiêu hoạt động: nhằm đạt đƣợc sự hữu hiệu và hiệu quả trong hoạt động của đơn vị. o Mục tiêu về báo cáo: báo cáo cung cấp các thông tin tài chính và phi tài chính kịp thời, phù hợp cho các đối tƣợng sử dụng. o Mục tiêu tuân thủ: tuân thủ công ƣớc quốc tế, pháp luật của quốc gia và các quy định có liên quan. o Mục tiêu về quản lý nguồn lực: mục tiêu này là phần chi tiết hóa mục tiêu về hoạt động của đơn vị, nhƣng do đặc thù của khu vực công nên INTOSAI muốn nhấn mạnh thêm tầm quan trọng của việc sử dụng hợp lý nguồn ngân sách, tránh lạm dụng, lãng phí nguồn lực quốc gia.
Các bộ phận hợp thành hệ thống kiểm soát nội bộ Dựa trên nền tảng báo cáo COSO, hƣớng dẫn về KSNB của INTOSAI 2013 cũng đƣa ra 5 bộ phận của hệ thống KSNB: Sơ đồ 1.1: Các bộ phận hợp thành hệ thống kiểm soát nội bộ 1. Môi trường kiểm soát Môi trƣờng kiểm soát đã tạo nên một sắc thái chung cho một tổ chức, ảnh hƣởng đến ý thức kiểm soát của các nhân viên. Môi trƣờng kiểm soát là nền tảng cho tất cả các yếu tố khác trong KSNB, tạo lập một nề nếp kỷ cƣơng, đạo đức và cơ cấu tổ chức.