CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KIỂM SOÁT CHI NGUỒN VỐN CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA GIẢM NGHÈO QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC 1. Cơ sở lý luận về kiểm soát chi nguồn vốn chương trình mục tiêu quốc gia qua Kho bạc Nhà nước 1. Khái quát về chương trình mục tiêu quốc gia 1. Khái niệm chương trình mục tiêu quốc gia Chương trình mục tiêu quốc gia là một tập hợp các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đồng bộ về kinh tế, xã hội, khoa học, công nghệ, môi trường, cơ chế, chính sách, tổ chức thực hiện một hoặc một số mục tiêu đã được xác định trong Chiến lược phát triển KT-XH chung của đất nước trong một thời gian nhất định.
Theo Điều 4 luật đầu tư công số 49/2017/QH13 ngày 18/6/2017 của Quốc hội khóa 13 thì: “Chương trình mục tiêu quốc gia là chương trình đầu tư công nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của từng giai đoạn cụ thể trong phạm vi cả nước”. Một chương trình mục tiêu quốc gia bao gồm nhiều dự án khác nhau để thực hiện các mục tiêu của chương trình. Đối tượng quản lý và kế hoạch hóa được xác định theo chương trình, việc đầu tư được thực hiện theo dự án. Dự án thuộc CTMTQG là một tập hợp các hoạt động để tiến hành một công việc nhất định, nhằm đạt được một hay nhiều mục tiêu cụ thể đã được định rõ trong chương trình với nguồn lực và thời hạn thực hiện được xác định.
Theo quyết định số 42/2002/QĐ-TTg định nghĩa: “Dự án thuộc CTMTQG là một tập hợp các hoạt động để tiến hành một công việc nhất định, nhằm đạt được một hay nhiều mục tiêu cụ thể đã xác định rõ trong chương trình với nguồn lực và thời hạn thực hiện được xác định”. (Vũ Cao Đàm, 2008), Đặc điểm của một CTMTQG là tính có mục đích, thời hạn và nguồn 6 kinh phí cụ thể. CTMTQG là một trong những công cụ để thực hiện các mục tiêu chiến lược phát triển KT-XH, được cụ thể hóa bằng các kế hoạch 5 năm và hàng năm. Một CTMTQG thường bao gồm một hệ thống chính sách, biện pháp mang tính đồng bộ, toàn diện nhằm thực hiện một số mục tiêu cụ thể của chiến lược phát triển KT-XH, tránh được những mâu thuẫn, chồng chéo giữa cá cơ chế, chính sách.
Thời hạn thực hiện CTMTQG thường từ 5-10 năm nhằm thích ứng với những thay đổi về môi trường, KT-XH trong những giai đoạn phát triển khác nhau. Nguồn kinh phí thực hiện CTMTQG được phân bổ hàng năm trên cơ sở tổng kinh phí của chương trình, được điều chỉnh tùy theo nhu cầu và khả năng đáp ứng ngân sách. CTMTQG được xây dựng với mục tiêu cụ thể, được lượng hóa để giúp việc đánh giá tình hình và kết quả thực hiện có cơ sở, chương trình có thời hạn, lộ trình, kế hoạch huy động và sử dụng nguồn lực được xác định rõ ràng, giúp cho việc quản lý, điều hành, đánh giá và điều chỉnh chính sách phù hợp thực tế và đúng mục tiêu. CTMTQG được xác định dựa trên tiêu chuẩn sau: (1) các vấn đề phải cấp bách, liên ngành, liên vùng và có vai trò quan trọng đối với sự phát triển KT-XH chung của đất nước, cần phải có sự tập trung nguồn lực và chỉ đạo của chính phủ để giải quyết; (2) mục tiêu phải rõ ràng, lượng hóa được và nằm trong chiến lược chung của quốc gia; (3) thời gian thực hiện có hạn, thường là 5 năm hoặc phân kỳ thực hiện cho từng giai đoạn 5 năm; (4) phải gắn với các vấn đề xã hội theo cam kết quốc tế của chính phủ, theo chương trình chung của thế giới hoặc theo khu vực.
Khái quát về chương trình MTQG Giảm nghèo a. Khái niệm về đói nghèo Khái niệm về đói nghèo ở Việt Nam tương đồng với những khái niệm về đói nghèo được thừa nhận rộng rãi trên thế giới. Hiện nay, Việt Nam đã thừa nhận khái niệm chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu 7 vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương”. Thực tế cho thấy có sự không thống nhất về quan điểm, khái niệm và đối với từng quốc gia khác nhau sẽ có chuẩn mực đánh giá khác nhau.
Vì thế, trên cơ sở thống nhất chung về mặt định tính, cần phải xác định thước đo mức nghèo đói của mỗi quốc gia, mỗi vùng, mỗi địa phương. Đói nghèo ở Việt Nam không chỉ được nhìn nhận ở phương diện thiếu thốn những nhu cầu vật chất tối thiểu như ăn mặc, giáo dục, y tế mà ở cả phương diện thu nhập hạn chế, thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong những lúc khó khăn và dễ bị tổn thương trước những đột biến bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và những khó khăn tới người có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định. Chuẩn nghèo tại Việt Nam Để xác định được ngưỡng đói nghèo thì điểm mấu chốt của vấn đề phải xác định được chuẩn đói nghèo. Chuẩn đói nghèo biến động theo thời gian và không gian, nên không thể đưa ra được một chuẩn mực chung cho đói nghèo để áp dụng trong công tác xoá đói giảm nghèo, mà cần phải có chỉ tiêu, tiêu chí riêng cho từng vùng, miền ở từng thời kỳ lịch sử.
Nó là một khái niệm động, do vậy phải căn cứ vào tốc độ tăng trưởng kinh tế, nguồn lực tài chính và qua điều tra, khảo sát, nghiên cứu nước ta đã đưa ra mức chuẩn về đói nghèo phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam trong từng giai đoạn. Hiện nay, ở Việt Nam chủ yếu vẫn xác định chuẩn nghèo theo chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người theo tháng hoặc theo năm. Chỉ tiêu này được tính bằng giá trị hoặc bằng hiện vật quy đổi, thường lấy lương thực quy thóc để đánh giá. Ngoài ra còn một số chỉ tiêu chế độ dinh dưỡng (calo/người), mức chi nhà ở, chi ăn mặc, chi tư liệu sản xuất, điều kiện học tập, điều kiện chữa bệnh, 8 đi lại.
Các tiêu chí đánh giá nghèo khác như HDI, HPI cũng đã được sử dụng, nhưng chủ yếu là sử dụng trong các công trình nghiên cứu kinh tế xã hội hoặc tính toán trên phạm vi quốc gia để xác định mức độ phát triển trong so sánh với các nước khác trên thế giới.Tại Việt Nam, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan được Chính phủ giao nhiệm vụ chủ trì thực hiện việc điều tra, khảo sát các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, nghiên cứu và đề xuất với Chính phủ, căn cứ vào đề xuất đó Chính phủ công bố mức chuẩn nghèo cho từng giai đoạn cụ thể (Kho bạc Nhà nước Điện Biên, “Báo cáo tổng kết công tác Kho bạc Nhà nước các năm 2017-2019; Báo cáo kiểm soát chi NSNN các năm 2017-2019”)( Kho bạc Nhà nước Điện Biên).1: Chuẩn nghèo của Việt Nam được xác định qua các thời kỳ Hộ cận Giai đoạn Đơn vị tính Hộ đói Hộ nghèo nghèo 1. Giai đoạn 1993-1995 ≤ mức ≤ mức ≥ mức - Vùng nông thôn kg gạo/người/tháng 8 13 - Vùng thành thị kg gạo/người/tháng 15 20 2. Giai đoạn 1995-1997 - Vùng nông thôn miền kg gạo/người/tháng 13 15 núi, hải đảo - Vùng nông thôn đồng kg gạo/người/tháng 13 20 bằng, trung du - Vùng thành thị kg gạo/người/tháng 13 25 3. Giai đoạn 1997-2000 - Vùng nông thôn miền đồng/người/tháng 45.000 núi, hải đảo - Vùng nông thôn đồng đồng/người/tháng 45.000 bằng, trung du - Vùng thành thị đồng/người/tháng 45.000 9 Hộ cận Giai đoạn Đơn vị tính Hộ đói Hộ nghèo nghèo 4.
Giai đoạn 2001-2005 - Vùng nông thôn miền đồng/người/tháng 80.000 núi, hải đảo - Vùng nông thôn đồng đồng/người/tháng 100.000 bằng, trung du - Vùng thành thị đồng/người/tháng 150. Giai đoạn 2006-2010 - Vùng nông thôn đồng/người/tháng 200.000 - Vùng thành thị đồng/người/tháng 260.000 - - Vùng nông thôn đồng/người/tháng 400.000 - - Vùng thành thị đồng/người/tháng 500.000 Vùng nông thôn Và thiếu Và thiếu (Đáp ứng một trong hai đồng/người/tháng hụt từ 03 hụt dưới tiêu chí) chỉ số đo 03 chỉ số lường mức đo lường độ thiếu mức độ hụt tiếp cận thiếu hụt các dịch vụ tiếp cận 10 Hộ cận Giai đoạn Đơn vị tính Hộ đói Hộ nghèo nghèo xã hội cơ các dịch bản trở lên vụ xã hội cơ bản 900.000 Và thiếu Và thiếu hụt dưới Vùng thành thị hụt từ 03 03 chỉ số (Đáp ứng một trong hai đồng/người/tháng chỉ số đo đo lường tiêu chí) lường mức mức độ độ thiếu thiếu hụt hụt tiếp cận tiếp cận các dịch vụ các dịch xã hội cơ vụ xã hội bản trở lên cơ bản (Nguồn: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) Căn cứ vào mức sống thực tế các địa phương, trình độ phát triển kinh tế xã hội, từ năm 1993 đến nay Việt Nam đã có 6 lần thay đổi chuẩn nghèo, các tiêu chí đánh giá chuẩn nghèo thay đổi theo thời gian cùng với sự thay đổi mặt bằng thu nhập quốc gia, ở các giai đoạn đầu chúng ta sử dụng mức chuẩn nghèo theo thu nhập bình quân đầu người trên tháng nhưng được tính quy đổi bằng gạo (kg/người/tháng), đến giai đoạn nước ta về cơ bản đã xoá được tình trạng đói, do đó mức chuẩn nghèo vẫn được tính theo thu nhập bình quân đầu người trên tháng nhưng được tính bằng giá trị (đồng/người/tháng). 11 Ở nước ta hiện nay, việc xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo được căn cứ theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg, ngày 19-11-2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020. Theo đó, chuẩn hộ nghèo và hộ cận nghèo như sau: Tiêu chí về thu nhập chuẩn nghèo nông thôn: - TNBQ đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; - TNBQ đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
Tiêu chí về thu nhập chuẩn nghèo thành thị: - TNBQ đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; - TNBQ đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Sự thay đổi từ việc lấy mức chuẩn nghèo bằng hiện vật (gạo) sang chuẩn nghèo bằng giá trị (tiền) đã cho thấy, công cuộc giảm nghèo của Việt Nam có một bước tiến mới, thể hiện sự tiến bộ trong tiêu chuẩn đánh giá đói nghèo.