Chương 1: Cái nhìn nghệ thuật trong hồi ký của Tô Hoài Chương 2: Không gian nghệ thuật trong hồi ký của Tô Hoài Chương 3: Thời gian nghệ thuật trong hồi ký của Tô Hoài Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 12 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 CÁI NHÌN NGHỆ THUẬT TRONG HỒI KÝ CỦA TÔ HOÀI 1. Đặc điểm hồi ký của Tô Hoài 1. Khái niệm hồi ký Thể loại hồi kí ra đời rất sớm, từ thời cổ Hi Lạp. Hồi ức của Kxê - nô – phôn và Xô- cơ- rát và những ghi chép của ông về các cuộc hành quân của người Hi Lạp (thế kỉ V tr.
CN) thường được coi là những tác phẩm hồi kí cổ xưa nhất. Ở nước ta vào những năm cuối thập niên 90 thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI trên văn đàn xuất hiện nhiều tác phẩm hồi ký của văn nghệ sĩ, chủ yếu là các nhà văn đã tạo dựng một mảng sinh động của đời sống văn học mà có thể nói rằng trước đó chưa thể có. Nhiều sự kiện văn học quá khứ, nhiều số phận văn chương cùng nhiều vấn đề phức tạp của quá khứ gần, xa… đã được tái dựng theo một cách nhìn mới. Những chuyển động ban đầu báo hiệu tầm ảnh hưởng sâu rộng của hồi ký đối với tư tưởng cũng như cuộc sống có thể kể đến Đặng Thai Mai hồi ký, Từ bến sông Thƣơng của Anh Thơ và tiếp đó là những tác phẩm thu hút sự quan tâm, tạo được ấn tượng mạnh đối với độc giả như Cát bụi chân ai, Chiều chiều của Tô Hoài, Bút ký song đôi của Huy Cận, Nhớ lại một thời của Tố Hữu v.
Vậy thế nào là hồi ký? Các tác giả của cuốn Từ điển thuật ngữ văn học đã đưa ra khái niệm: “Hồi ký là một thể loại thuộc loại hình ký, kể lại những biến cố đã xảy ra trong quá khứ mà tác giả là người tham dự hoặc chứng kiến”. Nhóm tác giả cho rằng: “Xét về phương diện quan hệ giữa tác giả với sự kiện được ghi lại về tính chính xác của sự kiện, về góc độ và phương thức diễn đạt, hồi ký có nhiều chỗ gần với nhật ký. Còn về phương diện tư liệu, về tính xác thực và Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 13 không có hư cấu thì hồi ký lại gần với văn xuôi lịch sử, tiểu sử khoa học” [12. Cùng với quan niệm đó, tác giả Lại Nguyên Ân trong cuốn 150 thuật ngữ văn học cũng khẳng định: “Hồi ký là một dạng trứ tác thuộc nhóm thể tài ký.
Tác phẩm hồi ký là một thiên trần thuật từ ngôi tác giả, kể về những sự kiện có thực trong quá khứ mà tác giả tham dự hoặc chứng kiến. Quan tâm đến vấn đề này, các tác giả của cuốn Lí luận văn học đã dành một chương nghiên cứu về tác phẩm kí văn học. Các tác giả cho rằng: “Phải là loại văn xuôi tự sự trần thuật những người thật việc thật với những đặc điểm riêng biệt trong mức độ và tính chất hư cấu, trong vai trò của người trần thuật cùng mối liên hệ giữa nó với đặc điểm của kết cấu và cốt truyện v. thì mới làm nên đặc trưng của kí.
Cũng trong cuốn này, các nhà lí luận văn học khẳng định: “Xét từ gốc và bản chất, thì kí không nhằm thông tin thẩm mĩ, mà là thông tin sự thật. Như vậy là, trong quan niệm của các nhà nghiên cứu, hồi ký là một thể loại văn học luôn đề cao tính chính xác và độ chân thực của các sự kiện. Nhà văn Tô Hoài – nhà văn rất thành công trong thể loại hồi ký cũng đưa ra nhận định riêng của mình về: “Ký là một thể loại mang tính cách riêng, tính cách của một lối viết ra những cảm xúc trước sự việc mắt thấy, tai nghe. Ký có lối xây dựng chủ đề, nhân vật, kết cấu, tình tiết, ngôn ngữ… riêng biệt” [55.
Chính từ quan niệm đó mà hồi ký của Tô Hoài có những đặc điểm riêng. Một mặt nó tuân theo những yêu cầu riêng của hồi ký, một mặt nó in đậm cá tính sáng tạo của nhà văn. Trong đó hai cuốn hồi ký Cát bụi chân ai và Chiều chiều là những tác phẩm tiêu biểu minh chứng cho phong cách viết hồi ký của tác giả. Như vậy hồi ký là một thể quan trọng trong ký tự sự.
Hồi ký là một cách thể hiện nhu cầu khám phá đời sống và con người. Sức hấp dẫn của hồi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 14 ký chính là sự tường minh của hồi ức và sự sắp xếp các mạch của hồi ức. Các tác giả không chỉ xây dựng được diện mạo của người cùng thời mà qua chuyện của mình phác họa được gương mặt của thời đại. Nói như nhà thơ Huy Cận: “Viết hồi ký là sống lại một lần nữa cuộc đời mình, cũng là san sẻ cho người trong thiên hạ vui buồn của mình, thân phận của mình và phần nào những trải nghiệm dọc đời đã sống” [54.
Nhà văn Tô Hoài và hành trình viết hồi ký của tác giả Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen, sinh ngày 27/9/1920 trong một gia đình thợ thủ công nghèo ở làng Nghĩa Đô, phủ Hoài Đức, nay thuộc phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Hoàn cảnh đó khiến nhà văn từ nhỏ đã sớm hòa mình trong cuộc sống của gia đình, làng quê lúc phong lưu cũng như khi sa sút, túng quẫn. Tô Hoài cũng đã cảm nhận được niềm vui và nỗi buồn trong từng bước thăng trầm của làng nghề truyền thống. Tuổi thơ của Tô Hoài hầu như không được sống trong cảnh êm đềm.
“Cậu bé Sen” thường được chứng kiến cảnh ông ngoại nghiện rượu để rồi khi thì ông sinh sự, đay nghiến chửi bà, khi lại rất hiền lành âu yếm kể biết bao nhiêu là chuyện ngày xưa… Bà ngoại vừa cam chịu, cũng vừa lắm điều nhiều lời. Và các dì, cuộc sống quẫn bách nên cũng không còn thuần khiết như xưa, cũng cãi lại cha mẹ, cũng tình ý với thầy giáo làng để bị đánh ghen giữa nơi Kẻ Chợ, cũng đánh chửi con cái… Chính hoàn cảnh ấy đã tác động sâu sắc đến nhãn quan của Tô Hoài. Tô Hoài chỉ được học hết bậc tiểu học, rồi cũng như mọi thanh niên trai làng khác, Tô Hoài sớm trở thành anh thợ cửi. Nhưng cảnh nhà nghèo, nghề dệt lại lụi bại dần, Tô Hoài lận đận trong mưu kế sinh nhai.
Ông phải đi kiếm sống bằng nhiều nghề: thợ cửi, bán hàng, phụ kế toán, coi kho cho hiệu buôn giầy, dạy học và còn sống qua những ngày thất nghiệp tủi nhục không một đồng xu dính túi. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 15 Tô Hoài vừa đi làm, vừa tự học, đọc sách báo và tập viết văn. Ông bắt đầu sự nghiệp sáng tác của mình bằng một số bài thơ có tính chất lãng mạn, sau đó ông đã nhanh chóng chuyển sang viết văn xuôi theo xu hướng hiện thực. Đó là một sự tự ý thức sâu sắc, tinh nhạy và từ đó ông đã gặt hái được rất nhiều thành công.
Tô Hoài sớm giác ngộ cách mạng. Thời kì Mặt trận dân chủ, ông tham gia phong trào hội Ái hữu thợ dệt ở Hà Đông và Thanh niên Dân chủ ở Hà Nội. Sau đó ông gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc, hoạt động tuyên truyền Việt Minh, viết báo bí mật. Sau Cách mạng tháng Tám, ông làm báo Cứu quốc, cơ quan của Tổng bộ Việt Minh.
Ông đi nhiều nơi: Việt Bắc, Tây Bắc…. Đặc biệt Tô Hoài đi theo bộ đội hàng tháng trời trong chiến dịch lớn, thâm nhập thực sự với quần chúng và đời sống nhân dân. Sau khi hòa bình lập lại, ông đã trở lại miền núi để sống và viết. Tô Hoài tham gia công tác lãnh đạo văn nghệ và gắn bó với công tác xã hội.
Vào tuổi 70, 80 ông vẫn mải mê đi và viết. Tất cả những gì Tô Hoài được chứng kiến và cảm nhận đều trở thành những tư liệu quý giá trong các trang viết của nhà văn. Tô Hoài vốn có khiếu quan sát tinh quái, đến “con ruồi bay qua không lọt khỏi mắt” (Vương Trí Nhàn), do đó mọi hoàn cảnh, mọi số phận, buồn vui, hay dở trong cuộc sống đều được nhà văn cảm nhận sâu sắc đầy tính nhân bản. Cùng với nhu cầu thôi thúc tự bên trong, Tô Hoài còn rất say mê học tập và ham hiểu biết.
Để tự trau dồi kiến thức cho mình, ông rất chăm chỉ đọc sách báo, ghi chép hằng ngày một cách tỉ mỉ, chi tiết, từ giá cả sinh hoạt chợ búa, đến tiếng nhà nghề, tiếng địa phương…. Ông học trong sách, học ngoài cuộc đời và học nhân dân, đức tính quý báu ấy đã giúp ông có được những chất liệu phong phú cho sự nghiệp sáng tác của mình. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 16 Có thể nói, Tô Hoài là người được chứng kiến mọi bước thăng trầm của gia đình và xã hội. Bản thân ông cũng trải qua những vui buồn, những nhọc nhằn cay đắng, cũng được gần gũi nhiều nhà văn có tên tuổi.
Bên cạnh đó với những tố chất vốn có của mình, Tô Hoài đã đem đến cho người đọc thế giới muôn hình, muôn vẻ của con người và cuộc sống. Đó là các yếu tố góp phần làm nên những đặc sắc trong nghệ thuật thể hiện của Tô Hoài. Viết hồi ký là sự tiếp nối mạch sáng tác dồi dào của Tô Hoài. Từ những Dế mèn phiêu lƣu ký (1941), Quê ngƣời (1941), O chuột (1942) đến Truyện Tây Bắc (1953), Mƣời năm (1957), Miền Tây (1967), Quê nhà (1981) … Tô Hoài không lôi cuốn người đọc ở những mảng sống bạo liệt hay những nhân vật tầm vóc với những biến động lớn lao mà sáng tác của ông thu hút bạn đọc từ những gì bình dị, đời thường ông đã gặp, đã trải.
Hồi ký của ông cũng được viết theo nguồn mạch đó. Những trang viết đầu tiên về năm tháng tuổi thơ trong Cỏ dại (1944) đến tập Tự truyện (1973) kể về cuộc sống của người thợ thủ công vùng ngoại ô Hà Nội, kể về những gian truân, vất vả trên con đường đi tìm “miếng cơm manh áo”, lý tưởng, lẽ sống của người thanh niên trong xã hội cũ, thấp thoáng những bạn văn, những người cùng hoạt động trong nhóm Văn hóa cứu quốc. Cỏ dại và Tự truyện là những dấu ấn đầu tiên để Tô Hoài viết những hồi ký tiếp theo trong hành trình viết hồi ký – một hành trình đấu tranh tư tưởng của mình.