Chương I. Vải nớt về Nguyễn Xuân Khánh và Khái niệm luyễn thoại “Chương 2. Cúc dạng thức yêu tổ luyễn thoi trong tiểu thuyết Nguyễn “Xuân Khánh “Chương 3. Nghé thuật biểu hiện yêu tổ luyễn thoại trong tiếu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh B Chuong 1 VAL NET VE NHA VAN NGUYEN XUAN KHANH VÀ KHÁI NIỆM HUYỆN THOẠI 1-1.
Nguyễn Xuân Khánh ~ Cuộc đời và văn nghiệp 1. Cuộc đời "Nguyễn Xuân Khánh - nhà văn của những cuốn tiểu thuyết n lếng, gây xôn xao dư luận và được tái bản nhiều nhất trong thời gian vào thập niên đầu thể kỹ này được biết đến như một biện tượng kỷ lạ. Thậm chí, có người "hông khỏi ngạc nhiên, đến mức thấy ông như là “Đột ngột.bước ra từ một huyễn thoại nào đó, từ một sự dn mình nào đó lâu lắm, như loài trằm hương trong rùng sâu kỉa, một ngày nhoài lên tử lớp mùn và mục gỗ để đi về phía ánh sáng mặt trời và đem theo mùi hương quý giá” [9, t4]. Sự liên tưởng tưởng như vô lý lại hợp lý vô cùng khi nhìn lại cuộc đời, hành trình sắng tạo, cũng như nhân duyên với yếu tố huyền thoại của ông.
Sinh năm 1932 đến nay đã ở tuổi tám mươi, ởchặng cuối của cuộc đời, bút lực và tài năng của ông lại đang trong giai đoạn sung sức và viên mãn nhất. Có lẽ, hiện tượng bất thường ấy của nễn văn học Việt Nam là kết quả của một đời người đầy nghị lực, biết chấp nhận gánh chịu những thử thách nghiệt ngã trên con đường hành trình di tim và chờ đợi ngày giải phóng bản ngã. Nhìn lại quê hương, tuổi thơ và cuộc đời đầy sóng gió của nhà văn, ta. sẽ cảng hiểu thêm về tác phẩm của ông, và cái duyên với yếu tổ nghệ thuật đặc biệt của văn học nhân loại 1.
Một miễn quê và trôi thơ đây ám ảnh 'Nguyễn Xuân Khánh từng tâm sự nhiều lần về miền quê của mình. Đó là ngôi làng Cổ Nhuế, ở huyện Từ Liêm, Hà Nội. Một vùng quê với nhiều kĩ “4 niệm đã trở thành không gian tinh thin quen thuộc, góp phần tạo nên phong vị văn hóa dân gian trong nhỉ lễu thuyết của ông. “Cuộc sống gia đình vốn có tác động rất lớn đối với mỗi đời người.
Với Nguyễn Xuân Khánh, những năm tuổi thơ là nỗi ám ảnh không nguôi về tình cảnh cô đơn của những người phụ nữ trong gia đình. Trái tìm vốn say mê đọc xách và nhạy cảm của ông vẫn hằng nhớ lại “Từ nhỏ rới đã lớn lên giữu nổi đau sự cô độc, cô đơn của những người đàn bà. Dau tién là giả của tôi, một người đàn bà tự nguyện không lấy chẳng dé chăm lo cho các em rồi sau này" là các chảu. Thời đỏ, tính đại gia đình là ghê gớm, chuyên một người con trong đại gia đình không nghĩ đến chuyện lập gia đình riêng để ở lại chăm.
sóc cha me và các em là bình thưởng, rồi đắn di tôi, bà cũng sớm mắt chẳng ddo ông bệnh nặng. Nhưng cú sốc lớn nhất đổi với một thằng bé báy tuổi non ớt nhự tôi là chứng kiến cái chết của cha tôi khi mẹ vừa tròn ba mươi tuổi "Mà người đàn bà bước sang tuổi ba mười là lúc họ đẹp nhất, rực rỡ nhất, chín nhất và cũng là lúc khát khao hạnh phúc nhắt. Chỉ vì những lễ giáo vô hhinh mà mẹ phải ở vậy, hụ sinh xuân sắc, thất hmg buộc bụng quên mình để nuối các con” |9, tr14]. Cảnh ngộ, nỗi niềm và thân phận của những người thân Ấy, để lại dư âm lâu đài rong tâm hồn những ký ức buồn thương, mà về sau nảy Nguyễn Xuân Khánh đã lý giải cho tính nữ thiêng liêng thường được thể hiện trong tác phẩm của mình.
Kỹ ức về tuổi thơ của Nguyễn Xuân Khánh côn gắn liền với lẻ niệm về mẹ, qua những buổi theo mẹ đi bầu đồng nơi cửa Phật. Ông chứng kiến trực tiếp nhất, cảm nhận rõ rằng nhất nỗi cô đơn, khát vọng buồn bã ấn giấu đẳng sau những bước nhảy lên đồng, vừa man dại vừa mẻ đắm, vừa cô đơn vừa khát vọng hạnh phúc tràn trẻ, Và với Nguyễn Xuân Khánh, những lúc đó ông mình như lớn ên, từng tri, trưởng thành hơn, và thấy mình hơn với cõi thién, dé sau này ông có bản lĩnh hơn khi đối phó với những thử thách của. Phải chăng, đây cũng là hoàn cảnh sớm khơi dậy yếu tổ huyền thoại trong tâm trí nhà văn từ lúc tuỗi thơ, 1. Một cuộc đổi trải nhiễu sóng gió Nguyễn Xuân Khánh đã từng đỗ tú tải Toán, là sinh viên Đại hoc Y hoa Hà Nội.
Cũng như nhiều thanh niên có học thời bay giờ, ông say mê âm nhạc, từng là cây văn nghệ, nhưng không hé nghĩ rằng mình sẽ theo đuổi nghiệp văn. Đến năm 1953 ra vùng tự do, tỉnh nguyện đi bộ đội, trong thời gian đó, như tỉnh cờ và cũng như số phận sắp đặt sẵn, Nguyễn Xuân Khánh thử bút với truyện ngắn Một đêm. Năm 1958, truyện ngắn đầu tay ấy được in trên tạp chí Van nghé quán đội, không ngờ lại được giải thưởng, nhưng cũng chẳng có tiếng tăm gì. Không ngờ từ đó Nguyễn Xuân Khánh lại bén duyên với văn chương và viết văn trở thành khát vọng, (hành nỗi trấn trở trong suốt cả đời người.
"Tuy nhiên, cũng vì (heo đuổi cái nghiệp gian nan ấy mà ông đã phải nếm trải qua không ít thử thách khắc nghiệt của trường đời. Người ta vẫn. nhắc đến Nguyễn Xuân Khánh như một minh chứng cho hệ quả của một “thời xa vắng” nhiều đi lụy (chữ dùng của nhà phê h van hoe Vương Trí Nhân), một thời mà sau này ngẫm nghĩ lại, con người sẽ không khỏi rơi vào hai trường hợp: một là rũng mình ớn lạnh cho những ngày đã qua, hai là coi đồ như là phép thử cho bản lĩnh của mình. Và may mắn là ở chỗ, Nguyễn Xuân.
Khánh thuộc trường hợp thứ h Nguyễn Xuân Khánh vẫn gọi đùa và xí xóa cho khoảng thời gian ấy, coi đó là “những may rủi của số phận” mà ông tin vào. Năm 1960, sau những trang viết khởi đầu, Nguyễn Xuân Khánh được cắt nhắc lâm biển tập tạp chí Van nghệ quân đội bên cạnh những tên tuổi như: Vũ Cao, Thanh Tịnh, Nguyễn Khải, Hữu Mai, Nguyễn Minh Châu, Xuân Thiéu, Xuân Sách "Nhưng có lẽ, bản tỉnh ông không phù hợp với một môi trường quy phạm và 16 chuẩn mực, chỉ sau một thời gian ngắn, do rủi ro nghề nghiệp, năm 1965 ông được chuyển về báo Thiếu niên tiền phong, làm phông viên thường trủ ở khu 4. Năm 1969, Nguyễn Xuân Khánh buộc phải về hưu non và trở về làng “Thanh Nhàn. Ông it sing tác hơn, hoặc sing tác thì phải mượn tên người khác.
Ông tìm đủ cách mưu sinh để nuôi đủ 7 miệng ăn: mẹ, vợ, bốn đứa con và chính bản thân mình. Để làm được như vậy, trong hoàn cảnh không có điều kiên sáng tác, Nguyễn Xuân Khánh nhận làm biên khảo và dịch thuật, đạp máy khâu suốt gần bảy năm trời đến mức trở thành tay thợ may chuyên nghiệp; đã từng may áo cho những nghệ sĩ quen thuộc như Trần Tiến, Dương “Thụ, Sơn Tùng.; rồi nuôi lợn, đi bán máu, đi gác nhà kho. Dù vậy, nhưng chưa bao giờ ông thôi su nghĩ, mong ước đến ngày được viết. Ông tự ý thức về những biến cố trong cuộc đời ông cũng nằm trong hoàn cảnh chung của một thời đất nước chiến tranh, đói nghèo và gian khổ.
Bao nhiêu người tí thức cũng như ông, phải kiếm kế sinh nhai bằng đủ thứ nghề. Ông coi đó là mẫu số chung của số phận con người trong một chăng đường lịch sử. Một cuộc đời tưởng chừng như lạc vào "min hoang tưởng” như tên gọi của ông, với những bước đi không lưỡng trước được của số phân nghiệt ngã. Chỉ có đi „ với nghị lực sống và không để mắt tắm lòng nhân hậu với cuộc đời, nhà văn đã không ngã gục.
Và, dường như một quy luật, cuộc sống cho dù khắc nghiệt đến đâu, nhưng bao giờ cũng độ lượng, khi sai đã hết lòng với nó thì nhất định sẽ được đền bù. Với Nguyễn Xuân Khánh, có lẽ cũng vậy, trong đau thương con người đó vẫn không tắt niềm tin vào sự. sống, Đồ là sỉ mạnh đã dẫn đến thành công của một sự nghiệp nằm trong vận hội đổi thay chung của cả đất nước và dân tộc. Hành tình sáng tác * Những bước đi đầy thử thách ban đầu m Như trên đã nói, đường đời và đường sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh không hề sun sẽ.
Những tác phẩm khởi đầu chỉ mới dừng lại ở việc phân ánh hiện thực trước mắt như tiểu thuyết rảng nghèo, được viết năm 1959, trong đợt tham gia trại sáng tác của quân đội cùng Phủ Thăng, Xuân Sách, Hoàng Văn Bổn khi mới 27 tuổi. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã định in cuốn tiểu thuyết này vào năm 1962, nhưng rồi ì một số lý do, cuỗn tiểu thuyết không được ra mắt độc giả. rỏ te nghèo chừng năm trăm trang “viet theo kiểu ngẫu hứng về một làng quê chiến đu chống thực dân Pháp”. C6 thé coi day là tác phẩm khởi đầu cho duyên nợ của Nguyễn Xuân Khánh.
với Ting quê và văn hóa làng. Đẳng sau những câu chuyện thường ngày của bức tranh sinh hoạt làng quê trong chiến tranh, nhà văn cũng đã bước đầu thé hiện những suy nghĩ, nung nấu của mình về thân phân dân tộc. Cũng thời gian iy, Nguyễn Xuân Khánh còn hoàn thành tập truyện ngắn Rimg su (Nhà xuất "bản Hà Nội in năm 1962) nhưng ít được mọi người nhắc đến, chỉ còn trong trí nhớ nhà văn khi nhìn lại con đường sáng tác của mình. “Trong những năm tháng bị treo bút và vật lộn kiếm sống, Nguyễn Xuân.
Khanh “van kiên trì nhẫn nại với nghề viết dù lúc đó hết sức khó khăn, chật 9, 14]. Không được viết để in, ông tìm cách làm nhiều nghề để tích Ty kiến thức, nuôi mộng văn chương. Vận dụng vốn học vấn tú tải thời Pháp. thuộc, Nguyễn Xuân Khánh dịch sách, viết biên khảo, như một cách dé vẫn được giao lưu với nhiều nguồn sáng tạo.
Không những vậy, ông còn viết tiêu thuyết 7rw cuởng, với lý do như ông đã kể lại “Sáu năm trời ở nhà ăn, ngủ, sống và chăm bằm với đàn lợn, tôi vừa nghiên cứu Kinh dich vita viét Tre cuồng” [9, tr14]- Truyện xuất phát từ cảm hứng về một hiện tượng nổi bật trong xã hội lúc bẩy giờ: "Nói thật hồi đó, khó khăn quá, thiếu thốn quá, nhà nhà cải thiện bằng cách nuôi lợn. Người thành phố nhà cửa chật chội, không có chỗ nuôi lợn thì đành nuôi trên tầng hai, nuôi trong bếp, nuôi trong gầm.