Chương 1: Nguồn lực thông tin trước yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ của Trường Cao đẳng Sơn La 14 Chương 2: Thực trạng nguồn lực thông tin tại Trung tâm thư viện trường Cao đẳng Sơn La Chương 3: Giải pháp phát triển nguồn lực thông tin tại Trung tâm thư viện Trường Cao đẳng Sơn La 15 Chuong 1 NGUON LUC THONG TIN 'TRƯỚC YÊU CÀU DAO TAO THEO HỌC CHÉ TÍN CHỈ CUA TRUONG CAO DANG SON LA 1. Cơ sở lý luận về nguồn lực thông tin lệm nguồn lực thông tin Thuật ngữ “Nguồn lực thông tin” là một khái niệm trọng tâm trong lĩnh vực thông tin và thư viện, tương đương với thuật ngữ “Information resource” trong tiếng Anh. Khái niệm “nguồn lực thông tin” ngày nay đã trở thành một khái niệm liên ngành được sử dụng ở nhiều lĩnh vực như quản lý, kinh tế, thông tin thư viện Đối với mỗi cơ quan thông tin thư viện, nguồn lực thông tin thư viện là một yếu tố vô cùng quan trọng, là một trong bồn thành tố cơ bản (nguồn lực thông tin, cơ sở vật chất kỹ thuật, cán bộ thư viện, người dùng tin) cấu thành mọi hoạt động của thư viện và cơ quan thông tin TS. đã xác định: Nguồn lực thông tin là một phần của sản phẩm trí tuệ, sản phẩm của lao động khoa học, kiến thức, sáng tạo của con người, phản ánh những thông tin được kiểm soát, được hi lại dưới một dạng vật chất nào đó.
Nguồn lực thông tin phải được cấu trúc, tổ chức lại giúp con người có thể tìm và khai thác được chúng theo nhiều cách khác nhau[31, tr64] GS. khăng định NLTT là một dạng sản phẩm trí óc, tri tuệ của con người, là phần tiềm lực thông tin có cấu trúc, được kiểm soát và có ý nghĩa thực tiễn trong quá trình sử dụng PGS. Nguyễn Hữu Hùng trong một loạt các bài viết của mình đều cho rằng bản chất của nguồn lực thông tin là phần thông tin trong xã hội được tổ chức lại có cấu trúc mà con người có thể tổ chức, khai thác, trao đổi, và có ý nghĩa trong xã hội. Nguồn lực thông tin bao hàm cả lượng thông tin được sở hữu bởi tổ chức và khả năng với tới các nguồn tỉn khác nhau, có nghĩa là ngoài lượng thông tin thuộc sự sở hữu của tổ chức và lượng thông tin mà tô chức có thể với tới 16 được nhằm phục vụ cho mục đích của tổ chức đó thì đều được gọi là nguồn lực thông tin của tổ chức.
Nhìn chung các tác giả đều thống nhất về bản chất và coi nguồn lực thông tin như là tổ hợp. các thông tin nhận được và tích luỹ được trong quá trình phát triển khoa học và hoạt động thực tiễn của con người, đề tái sử dụng trong các hoạt động thực tiễn xã hội.Về cơ bản, các khái niệm trên đều cho rằng nguồn lực thông tin là sản phẩm trí tuệ của con người tạo ra, được tổ chức lại để có thể Šm soát, khai thác và chia sẻ được, do đó có ý nghĩa nhất định đối với hoạt động thực tiễn của con người. Như vậy luận văn tiếp cận khái niệm nguồn lực thông tin với ý nghĩa như là một dạng sản phẩm trí tuệ của con người thông qua quá trình lao động sáng tạo, được tổ chức, kiểm soát và có gid tri trong hoạt động thực tiễn của con người Nguồn lực thông tin là một dạng sản phẩm của tri tuệ con người, được tổ chức lại, có cấu trúc mà con người có thể khai thác, trao đổi, và có ý nghĩa và giá trị trong hoạt động thực tiễn của con người. Xét theo khía cạnh xã hội, khái niệm nguồn lực thông tin được coi là phần tích cực của tiềm lực thông tin, phản ánh phần thông tin tích cực trong xã hội, có cấu trúc, được kiểm soát và có thể truy cập được, có giá trị phục vụ cho hoạt động của con người.
Không phải tắt cả mọi thông tin trong xã hội đều là nguồn lực mà chỉ là một phần thông tin có tính tích cực được tổ chức lại nhằm phục vụ cho mục đích và hoạt động của con người mới trở thành nguồn lực thông. Theo cách hiểu như vậy, NLTT có thể được nhận dạng và phân chia theo nhiều dấu hiệu khác nhau. Cụ thể: ~ Theo dấu hiệu về mặt nội dung: NLTT có thể được phân chỉa và bao quát theo các ngành và nhóm ngành khác nhau (Khoa học tự nhiên, khoa học xã hội,.) - Theo cách thức chuyển tải thông tin (dấu hiệu hình thức của tài liệu) có 2 dạng: NLTT truyền thống và NLTT hiện đại. NLTT truyền thống là các tài liệu được thể hiện trên các phương 17 tiện bằng giấy như: sách, báo, tap chi, luận văn, luận án, đề tài NCKH.
NLTT hiện đại gồm những thông tin được thẻ hiện trên các phương tiện số hóa. Khi nghiên cứu NLTT tại Trung tâm Thư viện Trường CĐSL, tác giả luận văn chọn cách tiếp cận NLTT theo góc độ chuyển tải thông tin, cụ thể là NLTT truyền thống (sách, báo, tạp chí, luận án, luận văn, đề tài NCKH,.); NLTT hiệt đại (CSDL, tài liệu số, tài liệu điện tử) mà thư viện sở hữu và có thê chức, kiểm soát và tiếp cận được. Hiểu về khái niệm và đặc trưng của NLTT giúp chúng ta nhận thức được vai trò của nguồn lực thông tin trong xã hội là đối tượng cần được quản trị, về mặt khoa học là đối tượng cần được nghiên cứu một cách nghiêm túc. Các đặc trưng của nguồn lực thông tin NLTT theo quan điểm trên có những tính chất nổi bật: tính vật lý, tính cấu trúc, tính truy cập, tính giá trị và tính chia sẻ.
Tính vật lý Tinh vat lý thể hiện ở chỗ, thông tỉn là vô hình nhưng được tiếp nhận thông qua nội dung. của nó, muốn thông tỉn trở thành nguồn lực thì nội dung của chúng phải được chuyển hóa dưới dạng hữu hình, được ghỉ lại trên một dạng vật chất nhất định(như giấy, vật liệu nhựa) bằng một hệ thống tín hiệu, biểu tượng. Những thông tin được ghỉ lại có thể tồn tại dưới dạng tài liệu giấy hoặc môi trường số hóa như các loại băng đĩa từ, đĩa CD, máy vi tính. Nhờ có tính vật lý mà những thông tin, những ý tưởng, tri thức của con người được lưu giữ, trao đổi trong không gian và thời gian.
Thông tin vi thé trở thành nguồn lực giúp con người cải tạo va phát triển xã hội. Tuy nhiên, hiện nay trước thời đại bùng nổ thông tin thì con người chưa thể kiểm soát và tư liệu hóa được nhiều nguồn tin có giá trị làm cho nhiều bộ phận tài sản thông tin bị mắt đi. Chẳng hạn như các thông tin ở các nguồn hội nghị, hội thảo, các khảo sát. trên quy mô I quốc gia.
Tỉnh cấu trúc “Tính cấu trúc thể hiện trong nguồn lực thông tin chính là những thông tin được ghi lại và xử lý theo những thể thức và tiêu chuẩn nhất quán. Con người muốn tạo lập và quản trị NLTT 18 phải đưa nó về một dạng có cấu trúc và phải được sắp xếp, trình bày theo trật tự, phù hợp với mục đích sử dụng nhất định nhằm truy cập an toàn và bảo quản an toàn thông tin. Ở bắt cứ hệ thống thông tin nào, cấu trúc của NLTT cũng được nhìn nhận ở 2 khía cạnh là mặt dữ liệu và tổ chức. Tính truy cập Một đặc trưng quan trọng của NLTT chính là thông tin được truy cập.
Thông tỉn chỉ trở thành nguồn lực khi nó được truy cập, khai thác, phô biến và sử dụng chúng. tin, NDT phải truy cập thông qua các dấu hiệu khác nhau gọi là những điểm truy cập (access point) như tên sách, tên tác giả, ký hiệu phân loại,. Trường hợp yêu cầu của NDT có thể tìm kiếm bằng một điểm truy cập gọi là yêu cầu đơn giản hoặc nhiều điểm truy cập gọi là yêu cầu phức tạp. Giữa các điểm truy cập thành viên của yêu cầu phức tạp được kết nối với nhau bằng các toán tir logic: AND, OR, NOT.
Tinh chia sé Nguồn lực thông tin được phát triển khi có môi trường trao đổi, chia sẻ thông tin với nhau, bởi bản chất thông tin càng sử dụng lại càng tạo ra thông tin mới. Thông tin có thể phát huy sức mạnh khi nó được liên kết và chia sẻ với các nguồn thông tin khác nhau. Chính vì vậy trong hoạt động thông tin, việc kết nối mạng thông tin va chia sẻ thông tin là quan trọng nhằm tạo ra sức mạnh của NLTT từ nhiều nguồn khác nhau. Tuy nhiên vì cấu trúc thông tin có tính mở nên có thể dé dàng chuyển tải NLTT từ nơi khác để chia sẻ NLT, nhưng phải có giao thức về kỹ thuật, thỏa thuận giữa cá bên và cơ sở pháp lý cho việc chia sé Tinh giá trị Thong tin chỉ có giá trị khi nó được khai thác và sử dụng.
Tuy nhiên giá trị của thông tin là một khái niệm rất khó xác định, khó đo lường. Giá trị của thông tin được hình thành do quá trình lao động sáng khoa học của con người và thông tin có giá trị là thông tin phục vụ cho mọi hoạt động của con người. Giá trị của thông tin có thể nhìn nhận ở 2 chiều là thông tin tích cực và thông tin tiêu cực. Do đó, các cơ quan thông tin cần phải nâng cao chất lượng của thông tỉn tích 19 cực trong việc giải quyết các vấn để trong cuộc sống của cong người, đồng thời hạn chế các thông tin tiêu cực bằng cách chọn lọc, xử lý và tổ chức tốt thông tin.
Các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn lực thông tin 1. Nhận thức của lãnh đạo về vấn dé phat triển nguôn lực thông tin Nhận thức đúng đắn của lãnh đạo các cấp về tầm quan trọng của phát triểnNL.TT có tác động trực tiếp, quyết định sự tồn tại và phát triển của các hoạt động thư viện tại trường CĐSL, thể hiện rõ sự quan tâm của lãnh đạo đối với thư viện. Ở chiều ngược lại, nếu lãnh đạo các cấp nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của phát triển NLTT sẽ ảnh hưởngtrực tiếp tới các quan điểm, đường lối chính sách. được thể hiện thông qua các vănbản quy phạm pháp luật, góp phần kìm hãm sự phát triển của hệ thống.
Nhận thứccủa lãnh đạo các cấp về tầm quan trọng của phát triển NLTT cũng sẽ tỷ lệ thuận hoặc nghịch với ệc tăng cường đầu tư các nguồn lực, định hướng hoạt động, tăng cường, hiệu lực quản lý Nhà nước, chất lượng NLTT. và khả năng đáp ứng nhu cầu NDT.