Phần mở đầu 4 trang; Chương l: trình bày tổng quan tài liệu 25 trang; Chương 2: trình bày địa điểm và phương pháp nghiên cứu 9 trang: Chương 3: trình bày về kết quả và biện luận 48 trang; Kết luận và kiến nghị 2 trang ; Tai liệu tham khảo 5 trang. Phần phụ lục gồm các môi trường sử dụng trong nghiên cứu, các bảng số liệu kết quả, hình ảnh các công trình kiến trúc bị nắm mốc gây hại và hình ảnh lấy mẫu ngoài thực địa. Việc tạo ra lớp không gian sân vườn đan xen giữa các công trình, hành lang, hàng hiên, hàng cột giúp điều hoà vi khí hậu. Lớp không gian tạo sự chuyển động, nhịp điệu trong kiến trúc truyền thống, đồng thời tạo điểm nhấn và hình ảnh đặc trưng trong không gian.
Ngoài ra, các công trình chính đều quay mặt về hướng Nam thể hiện rất rõ ở các công trình như Điện Thái Hoà, Ngọ Môn, Kỳ Đài, Hộ Thành Hào, Phu Văn Lâu, Nghênh Lương Đình, sông Hương, núi Ngự Bình. Kinh Thành Huế được xây dựng theo kiến trúc của phương Tây kết hợp. một cách tì tình với kiến trúc thành quách phương Đông. Kinh Thành Huế được quy hoạch bên bờ Bắc sông Hương, xoay mặt về hướng Nam, với diện tích mặt bằng 520 ha và được giới hạn bởi 3 vòng thành theo thứ tự ngoài lớn, trong nhỏ.
Vòng thành có chu vi gần 10km, cao 6,6m, dày 21m được xây khúc khuỷu với những pháo đài được bố trí cách đều nhau, kèm theo các pháo nhãn, đại bác, kho đạn. Thành ban đầu chỉ đắp bằng đất, mãi đến cuối đời Gia Long mới bắt đầu xây gạch. Bên ngoài vòng thành có hệ thống sông đào vừa mang chức năng bảo vệ vừa có chức năng giao thông đường thủy có chiều dài hơn 7km. Kinh Thành Huế có 10 cửa chính để ra vào, xung quanh.
và ngay trên thành có thiết lập 24 pháo đài để phòng thủ. Ngoài ra, còn có một cửa phụ thông với Trin Binh Đài gọi là Thái Bình Môn [1]. Đại Nội nằm ở khoảng giữa Kinh Thành là nơi đặt các cơ quan cao nhất của chế độ quân chủ và là nơi thờ tự các vua chúa đã quá cố. Đại Nội có mặt bằng gần vuông, mỗi bề khoảng 600m, xây bằng gạch, cao 4m, dày Im, xung.
quanh có hào bảo vệ. Đại ôi có bốn cửa để ra vào, trong đó cửa chính (phía Nam) là Ngọ Môn, phía Đông có cửa Hiển Nhơn, phía Tây có cửa Chương. Đức, phía Bắc có cửa Hòa Bình. Các cầu và hồ được đào chung quanh phía ngoài thành đều có tên Kim Thủy [1].
Tắt cả các công trình lớn nhỏ trong Đại Nội đều được đặt giữa thiên nhiên với các hồ lớn nhỏ, vườn hoa, cầu đá, các hòn đảo và các loại cây lưu niên tỏa bóng mát quanh năm. Mặc dù quy mô của mỗi công trình có khác nhau, nhưng về tổng thê, các cung điện đều làm theo kiểu “trùng lương trùng thiềm” và đặt trên nền đá cao, nền lát gạch Bát Tràng, mái lợp bằng ngói hoàng lưu ly, các cột được sơn son, thếp vàng, Tổng thể kiến trúc này dùng núi Ngự Bình làm tiền án và dùng hai hòn đảo nhỏ trên sông Hương là Cồn Hén va Da Viên làm 2 yếu tố phong thuỷ rồng chẳu hỗ phục (Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hồ) để bảo vệ cố đô [1]. Lịch sử hình thành và đặc điểm kiến trúc của Thánh địa Mỹ Sơn - Quảng Nam a. Lịch sử hình thành Thánh địa Mỹ Sơn là một quần thể kiến trúc đền tháp độc đáo đặc trưng của người Chăm Pa, đầy bí ẩn và luôn hấp dẫn du khách gần xa.
Thánh địa Mỹ Sơn thuộc xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, cách thành. phố Đà Nẵng khoảng 69km và cách thành cổ Trà Kiệu khoảng 20km. Mỹ Sơn có lẽ được bắt đầu xây dựng vào thế kỷ IV, trong nhiều thế kỷ, thánh địa này được bổ sung thêm các ngọn tháp lớn nhỏ với tổng số công trình kiến trúc là trên 70 chiếc. Là tổ hợp bao gồm nhiều đền đài Chăm Pa.
trong một thung lũng đường kính khoảng 2km, bao quanh bởi đồi núi. Đây từng là nơi tổ chức. cúng tế của vương triều Chăm Pa cũng như lăng mộ của các vị vua Chăm Pa hay hoàng thân, quốc thích. Thánh địa Mỹ Sơn được coi là một trong những.
trung tâm đền đài chính của Ấn Độ giáo ở khu vực Đông Nam Á, là di sản duy nhất của thể loại này tại Việt Nam [20]. Đặc điễm kiến trúc Khu di tích Mỹ Sơn là một công trình n trúc xếp vào loại đẹp của thế giới. Trước đó, Thánh địa Mỹ Sơn có kết cấu bằng gỗ đã bị iêu hủy vào thế kỷ thứ IV, người ta đã khôi phục lại bằng gạch và tồn tại đến tận ngày nay I20]. Phía Nam di tích là núi Chúa, ngọn núi có đỉnh cao 785m so với mực nước biển, phía BBắc là sông Thu Bồn.
Địa hình Mỹ Sơn trải theo trục Bắc - Nam, với vùng đồi núi nằm ở phía Nam, khu đền thápở giữa và những dòng. suối, khe, sông tọa lạc ở phía Bắc. Khe Thẻ là con suối chính, chảy quanh co trong khu tháp để đưa nước từ triển núi ra sông Thu Bồn [20]. Do chịu ảnh hưởng của Ấn Độ giáo nên các kiến trúc được bố trí hợp.
với địa hình của từng vùng, hợp với quan niệm của Bà La môn giáo và Phật giáo. Đó là một tổng thể bao gồm một ngôi đền chính gọi là Kalan (tiếng Chăm). bao quanh Kalan có những ngôi tháp nhỏ, những công trình phụ và tường rào. Chính diện của ngôi đền Kalan là một căn phòng hẹp hình vuông có mái chóp nhọn, nơi đây thờ hình tượng của một vị thần hoặc một bộ Linga-Yoni.
Các đền tháp ở Mỹ Sơn đều được xây bằng gạch nung đỏ, kết cấu theo hình tứ giác. Gạch của người Chăm nung nhẹ, không cứng lắm, có nhiều quy cách khác nhau. Những ngôi tháp xây bằng gạch không có mạch hồ, ghép với những mảng trang trí bằng sa thạch như khung cửa, trụ cửa, lanh. Mặt ngoài tường của đền tháp đều chạm nối nhiều hình người mặt quỷ hay động vật hết sức tỉnh tế.
Ở đây, tháp lớn nhất có chiều cao trên 20m, mái tháp có nhiều tằng chồng lên nhau, càng lên cao càng nhỏ và đỉnh cao nhất có. hình đài sen [20]. Xung quanh ngôi tháp lớn có bốn ngọn tháp nhỏ ở bón góc, đã tạo thêm bề thế cho tháp lớn. Ở trong tháp các tượng thờ được đặt ở tằng dưới cùng, các tầng tháp ở giữa rỗng, các tầng nhỏ trên đỉnh tháp xây đặc.
Mỹ Sơn trước. Parmentier thống kê có 14 nhóm theo thứ tự mẫu tự A. với 71 kiến trúc đền - tháp. Trải qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ, nay chỉ khoảng 15 - 20 tháp còn giữ được phần thân tường và nóc tháp nhưng.
nhiều tác phẩm điêu khắc vẫn còn giữ được vẻ ban đầu. Mỹ Sơn hiện là một di tích chết, không còn thờ cúng như trước [20]. Mỹ Sơn là một quần thể di tích quan trọng nhất về nghệ thuật kiến trúc và tôn giáo của vương quốc Chăm Pa trước đây, hội đủ hai tiêu chuẩn mang giá trị toàn cầu. Khu di tích Mỹ Sơn điển hình cho sự giao lưu, hội nhập giữa văn hóa bản địa của dân tộc Chăm và những giá trị tiếp thu văn hóa bên ngoài, nhất là nghệ thuật và kiến trúc Ấn Độ, mặt khác phản ánh sinh động.
nền văn hóa Chăm Pa trong lịch sử văn hóa Đông Nam A [20] 1. MOT SO DAC DIEM VE NAM MOC 1. Sự phân bố của nắm mốc trong tự nhiên Nắm mốc phân bồ rất rộng rãi trong đất, nước, rác, phân chuồng, bùn thậm chí cả trong cơ chất mà vi khuẩn và xạ khuẩn không phát triển được. Sự phân bố của nắm mốc trong không khí cũng khác nhau tùy vùng.
Không khí không phải là môi trường sống của nấm mốc, tuy nhiên trong không khí có rất nhiều nấm mốc tồn tại. Nguồn gốc của nắm mốc là từ đất, nước, động vật, thực vật, con người theo gió, bụi phát tán khắp nơi trong không khí. Sự phân bố của nắm mốc trong không khí phụ thuộc vào 3 yếu tố sau: + Phụ thuộc vào khí hậu trong năm: mùa đông lượng nấm mốc thường ít nhất so với các mùa khác trong năm, ngược lại nắm mốc nhiều nhất vào mùa. Có lẽ do độ ẩm không khí, nhiệt độ cao, gió mưa và các hoạt động khác của thiên nhiên [19] + Phụ thuộc vùng địa lý: những vùng gần quốc lộ có nhiều xe qua lại lượng nấm mốc trong không khí bao giờ cũng nhiều hơn ở các vùng khác.
Không khí vùng núi và biển bao giờ cũng ít nắm mốc hơn những khu vực khác [19]. 14 mở ra khả năng ứng dụng hữu hiệu trong phân loại học và nghiên cứu đa dạng vi sinh vật. Nếu như các phương pháp truyền thống chỉ tập trung trên một số đối tượng vi sinh vật thì phương pháp sinh học phân tử có thể áp dụng. trên mọi đối tượng vi sinh vật.
Nói chung các phương pháp sinh học phân tử tập trung vào các kỹ thuật chủ yếu là: phân tích acid nucleic, phân tích protein, phân tích lipopolysaccharid, hóa phân loại học [35], [46]. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NÁM MÓC GÂY HẠI CÁC CÔN! TRINH KIEN TRUC TREN THE GIOI VA VIET NAM 1. Những nghiên cứu trên thế giới a. Nghiên cứu tác hại của nắm mắc lên các công trình kiến trúc Những thiệt hại do nắm gây ra đối với các công trình kiến trúc không thể tính bằng tiền và rất khó khôi phục lại được.
Chính vì vậy, việc quản lý bảo. tồn các công trình kiến trúc tại các nước tiên tiến đã được quan tâm và tiến hành từ rất sớm. Nhiều công trình nghiên cứu về tác hại của nắm móc đối với các nhóm. vật liệu như gỗ, gạch, ngói, xi măng, đá.
ở các di tích, từ lâu đã được nhiều. nhà vi sinh vật và bảo tồn học trên thế giới đặc biệt quan tâm. Các kết quả nghiên cứu đã đóng góp đáng kể vào việc bảo trì và bảo tồn các công trình kiến trúc. Đa số các đề tài nghiên cứu có liên quan đến tác hại của nắm mốc trên công trình kiến trúc, thường chú trọng vào tác hại của nắm mốc trên 4 nhóm vật liệu như gỗ, gạch, xi măng và đá.
Đây là những nhóm vật liệu được. sử dụng chủ yếu để xây dựng cho các công trình kiến trúc. © Châu Mỹ, Robert A. Blanchehe và cộng sự đã nị cứu những tác hại của nắm mốc lên vật iệu bằng gỗ ở các công trình kiến trúc.