CHƯƠNG 1. TÔNG QUAN TÀI LIỆU 1. HỆ THỰC VAT NGAP MAN KHU VUC CUA SONG VEN BIEN 1. Khái niệm rừng ngập mặn Rừng ngập mặn (RNM) là một trong những loại hình đất ngập nước quan trọng nhất (IUCN, 2002), nằm ở đầu bảng phân loại đất ngập nước RAMSAR [44] RNM là những quần xã thực vật hình thành ở vùng ven biển và cửa sông những nơi bị tác động của thủy triều ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới.
Trên thế giới có nhiều tên gọi khác nhau về RNM như “rừng ven biên”, “rừng ở vùng thủy triều” và “rừng ngập mặn” (FAO, 1994). Ở Việt Nam, hầu hết các nhà khoa học đều thống. nhất tên gọi chung là "rừng ngập mặn” [ l6] FAO (1994) đã đưa ra định nghĩa về RNM như sau: Rừng ngập mặn (RNM) là những dạng cấu trúc thực vật đặc trưng của vùng duyên hải nhiệt đới và cận nhiệt đới bảo vệ bờ, bao gồm các loại rừng: rừng bờ biển (coast woodland), rừng thủy triều (tidal forest) và rừng ngập mặn (mangrover forest) [45] Thuật ngữ RNM dùng đẻ chỉ vùng đắt ngập nước chỉ tác động của thủy triều, bao gồm các loại RNM, bãi triều, vùng nước mặn và các sinh cảnh khác thuộc vùng ngập triều khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới. RNM cụ thể là các rừng ở vùng triều ven biển bao gồm các loại cây gỗ, cây bụi, cây họ dừa, thực vật biểu sinh và dương xi (Tomlinson, 1986) [47] Theo quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn năm 2009 cho rằng RNM là rừng phát triển ven bờ biển và các cửa sông lớn có nước triều mặn ngập thường xuyên hoặc định kỳ [3].
Tom Iai, rừng ngập mặn (RNM) là một thuật ngữ mô tả một hệ sinh thái thuộc vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, được tạo thành trên nền các thực vật vùng triều với tô hợp động thực vật đặc trưng. Trong hệ sinh thái này, các đông thực vật, vi sinh vật trong đất và môi trường tự nhiên được liên kết thông qua quá trình trao đổi và đồng hóa năng lượng [49] Nhu vay, với những nhận định trên cho thấy, RNM là hệ sinh thái quan trong có năng suất cao ở vùng cửa sông ven biển nhiệt đới nhưng rất nhạy cảm với các tác đông của con người và thiên nhiên [13] Thuật ngữ “Thực vật ngập mặn” được đưa ra từ những năm 1613 và được hiểu như là từ ghép giữa tiếng Bồ Đào Nha là “mangue - ngập mặn” và một từ tiếng Anh la “grover — khu rừng nhỏ” [42]. Thực vật ngập mặn (TVNM) được hình thành từ các thực vật sống trên cạn dần dần thích nghỉ với điều kiện ngập mặn qua các đợt đới thuộc Malaysia, Indonesia có quả và hạt thích ứng với điều kiện ngập mặn [31] 'Về thành phần cây ngập mặn được chia làm hai nhóm gồm: cây ngập mặn thật su (true mangroves) va cây tham gia ngập mặn (asociate mangroves). Hệ thực vật trong RNM ở Đông Nam Á đa dạng nhất thế giới với 46 loài cây ngập mặn thật sự thuộc 17 họ và 158 loài tham gia RNM thuộc 55 họ.
Ở Việt Nam đã ghi nhận 35 loài cây ngập mặn thực sự và 40 loài tham gia RNM [12]. Đặc điểm rừng ngập mặn Theo Phan Nguyên Hồng và cộng sự (1998), trên thế giới, RNM phân bố chủ yếu trong các vùng cửa sông, ven biển nhiệt đới, chỉ có một vài RNM ở á nhiệt đới [I8]. 'Wahs (1974) phân chia thảm TVNM thế giới thành hai nhóm chính là: khu vực An Độ - Thái Bình Dương và khu vực Tây Phi - Châu Mỹ bao gồm bờ biển Châu Phi phía Đại Tây Dương, đảo Galapôga, Châu Mỹ [18] 'Việt Nam có thảm TVNM nằm trong khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương, có. 30 tỉnh và thành phố có rừng và đất ngập mặn ven biên chạy suốt từ Móng Cái đến Hà Tiên, trong đó [26]: ~ Vùng ven biển Bắc Bộ có 5 tỉnh: Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình.
RNM phát triển nhờ các đảo che chắn ở phía ngoài. Các cây chủ yếu là đước, sú, vẹt. - Vùng ven biển Trung Bộ có 14 tỉnh rải rác từ Thanh Hoá cho đến Bình Thuận. Bãi bồi hẹp, ít phù sa do bờ biển dốc, nhiều gió bão nên chỉ có những dãi RNM hẹp ở phía trong các cửa sông, chủ yếu là các cây nhỏ, cây bụi gồm đước, vẹt, sứ.
~ Vùng ven biển Đông Nam Bộ và Nam Bộ có 11 tỉnh: Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, TP.Hồ Chí Minh, Long An, Bến Tre, Tiền Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang. Nơi đây có nhiều bãi bồi rộng, giàu phủ sa, do hệ thống sông Đồng Nai và Cửu Long bồi đắp, ít gió bão nên RNM phát triển tốt. Rừng có nhiều loài cây như đước, vẹt, dừa nước. Khi nghiên cứu về sinh thái RNM, người ta nhận thấy các nhân tố khí hậu, thể nên, chế độ thủy triều, mức độ ngập triều, độ mặn có nhiều ảnh hưởng quan trọng, quyết định đến sự phân bó, sinh trưởng và phát triển của các quần xã RNM [13] Nhìn chung, các vùng ven biển Việt Nam đều mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới âm với nhiệt độ trung bình hàng năm 22,2°C (Tiên Yên - Quảng Ninh) đến 26,5°C (Cà Mau) và lượng mưa trung bình 1.
Một số nơi có lượng mưa hàng năm khá cao đạt tới 2. Ngược lại, một số nơi lại có lượng mưa. quá thấp 794 mm/năm ở Nha Hồ (Phan Rang), 1.152 mm/năm ở Phan Thiết. Ở những nơi có lượng mưa thấp dưới 1.200 mm/năm thường không có RNM phân bố tự nhiên.
Tổng lượng mưa hàng năm trên toàn lãnh thô Việt Nam đạt 630km nước. Miền Bắc Việt Nam do nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa hai đới khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới, lại chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc mang khối không khí lạnh xuống từng đợt, trở thành miền khí hậu nhiệt đới ẩm, biến tính có mùa đông lạnh. Trong mùa đông, có nhiều ngày nhiệt độ không khí xuống thấp dưới 20°C và nhỏ hơn 15°C đã làm cho nhiệt độ nước biển ven bờ ở nhiều nơi thấp hơn 20°C, có ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và phân bó của các loại RNM [16]. Mạng lưới sông ngòi ở Việt Nam khá dày, nếu chỉ tính riêng các sông ngòi dài hơn 10 km, thì cả nước có tới 2.360 con sông lớn nhỏ.
Mật độ lưới sông thay đổi từ 0,5 - 2km/kmẺ, Lượng dòng chảy của sông ngòi ở Việt Nam đồ ra biển Đông hàng năm vào khoảng 800 - 900km” nước. Nếu không tính lượng dòng chảy từ ngoài vào. thì lượng dòng chảy sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam vào khoảng 300km` nước [23] Việt Nam có hai con sông lớn nhất là sông Cửu Long và sông Hồng, với lượng dòng chảy chiếm tới 70% tổng lượng dòng chảy của các sông ngòi trong toàn quốc. Sông Cửu Long và sông Hồng hàng năm đưa ra biển khoảng 200 triệu tắn phù sa.
Do đó, các vùng cửa sông Hồng, sông Cửu Long và mỗi nam lan ra biển Đông 40 - 100m [24]. Trên các bãi bồi bùn loãng còn pha nhiều nước ên, dở đất dở nước, còn nặng về quá trình địa chất hơn là quá trình hình thành đất, đã xuất hiện các RNM tiên phong cố định bãi bồi [25] 1. Đặc điểm sinh tl Các cây ngập mặn sống ở vùng chuyển tiếp giữa môi trường biển và đất liền, do đó tác động của các nhân tố sinh thái ảnh hưởng lớn đến sự tổn tại và phân bố của chúng. Tuy nhiên cho đến nay, chưa có ý kiến thống nhất về vai trò, mức độ tác đông của từng nhân tố, hơn nữa các loài cây ngập mặn có biên độ thích nghỉ rất rộng với khí hậu, đất, nước, độ mặn, do đó khi dựa vào một khu phân bồ cụ thê nào.
đó để nhận định về tác động của môi trường, có thể sẽ không áp dụng được ở vùng. khác hoặc không thể suy ra tính chất chung cho loại thảm thực vật này [31]. Khí hậu Khí hậu có nhiều yếu tố, mỗi yếu tố có ảnh hưởng nhất định đến sự sinh trưởng, phân bố của các loài và giữa các yếu tố có tác động qua lại lẫn nhau. Trong các yếu tố khí hậu thì nhiệt độ, lượng mưa và gió có tác động lớn nhất đến sinh trưởng của cây ngập mặn.
Nhiệt độ không k Nhiệt độ không khí có ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng và số lượng loài. Những nơi có nhiệt độ không khí hàng năm cao và biên độ nhiệt hẹp như các vùng xích đạo và nhiệt đới âm cận xích đạo thì các loài cây ngập mặn phong phú nhất và có kích thước lớn nhất. Và tại Việt Nam, phân bó, số loài cây ngập mặn ở miền ‘Nam nhiều hơn so với miền Bắc. Lượng mưa: Mặc dù cây ngập mặn có mặt ở cả vùng khí hậu âm ướt cũng như vùng khô hạn nhưng sự sinh trưởng và phân bố tối ưu của các loài cây ở vùng xích đạo m như Trung Mỹ, Malaysia, Inđônêxia.
Ở bán cầu Bắc, cây ngập mặn phát triển ốt ở những vùng có lượng mưa hàng năm từ 1800 - 3000 mm. Còn ở vùng nhiệt đới, RNM phát triển mạnh ở những nơi có lượng mưa hàng năm cao từ 1800 ~ 2500 mm. Vùng ít mưa, số lượng loài và kích thước của cây giảm. Ở ven biển Nam Bộ, nhiệt độ bình quân của 2 tỉnh Cà Mau và Vũng Tàu chênh lệch nhau rất ít (khoảng 072C), nhưng lượng mưa ở Cà Mau (2360 mm/năm) lớn hơn so với Vũng Tàu (1357 mm/năm) nên cây ngập mặn ở Cà Mau phong phú hơn, kích thước cây cũng lơn hơn [31].
e Gió Gió giúp cho việc phát tán hạt và cây giống, làm thay đổi lực dòng triều và dòng chảy ven bờ, vận chuyển phù sa, trằm tích, tạo nên những bãi bồi mới, là nơi cho những loài cây tiên phong của RNM phát triển. Gió chướng là nguyên nhân trực tiếp gây ra nước dâng, đẩy nước có độ mặn cao từ biển vào sâu trong các cửa sông, tạo điều kiện cho cây ngập mặn vào sâu trong nội địa. Bên cạnh đó, tại một số khu vực miền Trung, gió mang cát từ bờ biển vào đất liền làm lắp một số vũng, bàu nước mặn, nước lợ và tiêu diệt các cây ngập. Gió mùa đông bắc và gió bão thường gây sóng to và mưa lớn, làm nước biển dâng cao, gây xói lờ bờ biển, bờ sông, lũ lụt và tàn phá các RNM trong vùng cửa sông.
Hơn nữa, gió mạnh còn làm xáo trộn độ mặn ở lớp nước mặt trên sông, làm thay đôi quy luật phân bố của các loài cây.2 Thủy triều Thủy triều là yếu tố quan trọng đối với sự phân bố và sinh trưởng của cây.