Chương 1: Tổng quan tài liệu - Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu - Chương 3: Kết quả và bàn luận - Kết luận và kiến nghị ~ Tài liệu tham khảo. CHUONG 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. TONG QUAN TINH HINH SAU BỆNH HẠI TIÊU 1. Trên thế giới Theo thống kê của FAO thì trên thế giới có 70 quốc gia trồng tiêu, trong.
đó các nước trồng nhiều nhất là Án Độ, Indonesia và Việt Nam. Sản lượng hạt tiêu trên thế giới tăng không ngừng: Năm 1954 có 64.000 tắn, năm 1990 sản lượng dat 185. Các quốc gia nhập khẩu hạt tiêu nhiều là Hoa Kỳ (khoảng 1⁄3 lượng tiêu thế giới), tiếp theo là Nga, Đức, Italia và Anh. Gần đây, nhu cầu tiêu ở các nước Trung Đông, Bắc Phi cũng rất lớn [8].
Các công trình nghiên cứu về cây tiêu trên thế giới rất phong phú, tuy nhiên tập trung theo các hướng chủ yếu sau: - Phân định giống tiêu sử dụng trong sản xuất: Loài tiêu đen (Piper nigrum L.) có bộ nhiễm sắc thể biến động 2n = 36 - 128 va gồm nhiều giống (giống cây trồng — cultivar). Sự phân định giống chính xác nhất là sir dung phương pháp phân tích nhiễm sắc thể, tuy nhiên rất tốn kém. Vì vậy, người ta thường sử dụng các chỉ tiêu hình thái theo bảng chỉ dẫn của Viện Nghiên cứu tài nguyên di truyền thực vật quốc tế: 29 chỉ tiêu về thân, lá và đặc tính sinh trưởng; 30 chỉ tiêu về gié và quả (tươi); 6 chỉ tiêu về hạt. Án Độ là quốc gia có tới 38 giống tiêu đang trồng và phát hiện thêm 63 giống khác [S], [41].
- Tuyển chọn và lai tạo các giống tiêu cho năng suất cao, phẩm chất tốt và kháng được sâu bệnh. Ấn Độ đã tạo được nhiều giống tiêu tốt từ tập đoàn 2.300 mẫu giống, trong đó có 940 mẫu giống tiêu hoang dại. Ở Malaysia tạo được 3 giống, Indonesia tạo ra 5 giống.|41] ~ Nghiên cứu các trụ cho cây tiêu ~ Các điều kiện canh tác của cây tiêu (đất trồng, phân bón, nước tưới ~ Nghiên cứu sâu và bệnh trên cây tiêu: + Sâu hại phổ biến là các loài rệp sáp. Ở Ân Độ đã phát hiện được 5 bộ, 18 họ, 34 loài, trong đó có các loài gây hại chủ yếu nhu Ferrisia virgata, Longitarsus nigripennis, Cydia hemidoxa.
Riêng họ rệp sáp giả (Pseudococcidae) đã xác định được 5 loài gây hại quan trong la Planococcus sp; Planococcus citri; Planococcus lilacinus; Dysmicoccus brevipes va Ferrisia virgata [38] Ở Malaysia các loài gây hại chủ yếu trên cây tiêu là sâu đục thân Lophobaris piperis, bọ xít lưới Diconocoris hewitte, bo xit mép Dasynus piperis. G Iran da ghi nhan c6 17 loài rệp sáp (Pseudococcidae) trong đó có các loai Ferrisia virgata, Planococcus ficus, Dysmicoccus brevipes gay hai cay tiêu [36] + Một số loài giun tròn (tuyến trùng) thude giéng Meloidogyne (M. incognita), chúng đục lỗ chui vào rễ, hút dịch cây làm cây khô héo, tạo thành các u ở rễ. Một số loài khác thuộc giống Pratylenchus và Xiphinema, sông trong đất, chích rễ non cây tiêu làm cây suy yếu, tạo điều kiện cho vĩ khuẩn và virus xâm nhập vào cây tiêu [14], [25] Quan trọng nhất là rệp sáp và giun tròn là 2 nhóm đóng vai trò vecter truyền bệnh nắm và virut rất nguy hiểm cho cây tiêu.
Theo Kularatne (2002), bệnh gây chết cây tiêu nhanh 1a do ndm Phytophthora va gy chét tiéu cham do nam Fusarium. Cây tiêu bị thối gốc, thối rẽ, lá vàng, héo rũ và rụng. Triệu chứng cây tiêu bị virus là ngọn chùn lại, lá non quăn tit, cây không phát triển và bị lùn. Theo Sarma và cs (2001), ở Ấn Độ, badnavirrus (thuộc giống Badna) gây bệnh được truyền sang cây tiêu chủ yéu do loai Ferrisia virgata và do sự cắt cành và ghép cành [31] Ở Malaysia, theo nghiên cứu của Eng và cs (1993), virus được truyền do.
loài rệp bột đuôi trắng Ferzisia virgata, loài virus gây bệnh này được xác định là PYMV (Piper Yellow Mottle Virus). Ở Sri Lanka, theo de Silva (1996, 2002), trên cây tiêu bị virus PYMV và CMV (Cucumber Mosaic Virus) gây hại, chúng đều do loài rệp sáp /lanoeoeeus citri lây truyền [18]. Theo nhiều nhà khoa học (Eng, 2002; Kularatne, 2002; Manohara và Rhizal, 2002.) cây tiêu bị nhiễm virus không thể chữa trị, do vậy cần sử dụng các giống sạch bệnh, kết hợp các biện pháp tổng hợp phòng bệnh cho. cây (vệ sinh, quảng canh, luân canh, thoát nước.
Sâu bệnh hại cây tiêu ở Việt Nam a. Các giống tiêu ở nước ta Theo Chevalier (1925), Việt Nam có thể là nơi xuất xứ của cây tiêu, chúng là cây bản địa ở Đông Dương vì có bằng chứng cho thấy đã tìm thấy cây tiêu dại ở vùng núi Ba Vì (miền Bắc Việt Nam) và ở Campuchia, người Stiêng thường thu hoạch tiêu dại trong rừng. Theo Phan Hữu Trinh (1988), cây tiêu được trồng ở Việt Nam với quy mô tương đối lớn ở vùng Hà Tiên và dau thé ky XIX [8] Năm 1947, giống tiêu Lada Belangtoeng có nguồn gốc từ Indonesia nhập. vào nước ta, có nhiều ưu điểm về khả năng chống bệnh thối rễ (Phan Hữu Trinh va cs, 1988).
Năm 1950 đã có khảo cứu về 6 giống tiêu trồng ở cao nguyên Bảo Lộc (Lâm Đồng), kết quả khảo cứu này cho kết luận là giống tiêu Lada Belangtoeng là thích hợp với nhiều vùng đắt ở nước ta nên được khuyến cáo đem trồng ở nhiều vùng trên cả nước (Nguyễn Cao Ban, 1966). Năm 1960, giống tiêu Lada Belangtoeng được trồng ở Quảng Bình, Vĩnh Linh và thể hiện tính ưu việt và thích nghi với vùng đất này (Lê Minh Xuân và Nguyễn Văn Phấn, 1983). Công bố của Trần Văn Hoà (2001), ở nước ta có các giống tiêu có triển vọng như Sẻ địa phương, giống Sréchesa, Kamchay, Kampot, Kep từ Campuchia, giống Lada Belangtoeng tir Indonesia va giéng Pynniyr tir An D6. Nhìn chung, các giống tiêu được nghiên cứu chủ yếu vào thời kỳ từ năm.
1925 — 1954, được nhập nội vào nước ta và nhân giống chủ yếu vào thời kỳ 1940~ 1950 (Phan Hữu Trinh, 1988; Phan Quốc Sủng, 2000) [5], [8] Trước năm 1975, cây tiêu chủ yếu được trồng ở Nghệ An, Quảng Bình, Long Khánh, Lộc Ninh, Phú Quốc. Diện tích trồng tiêu tăng nhanh nhất ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ (9115 ha, chiếm 60,27% diện tích trồng tiêu của cả nước). Trong 6 tháng đầu năm 2001 và 2002 Việt Nam vươn lên đứng đầu thế giới về xuất khẩu tiêu. Thị trường tiêu chủ yếu của Việt Nam là Mỹ, Singapore và các nước EU.
Hi n nay, cây tiêu được trồng ở nước ta là các giống tiêu nhập nội, tuy nhiên nông dân tự chọn lọc giống địa phương hay từ địa phương khác. Ở Gia Lai, hiện nay được trồng phô biến là giống Tiêu Sơn [5]. Nghiên cứu về sâu bệnh trên cây tiêu ở Việt Nam tập trung chủ yếu từ năm 1990 đến nay. Các công trình được công bố về sâu bệnh trên cây tiêu gồm: b.
Nghiên cứu về bệnh + Các công trình của Vũ Triệu Mân, Lê Lương Tề (1998), Phan Quốc Sung (2000), Nguyễn An Đệ và Mai Văn Trị (2004), Tôn Nữ Tuấn Nam (2004). đã dé cập đến triệu chứng bệnh do virus trên cây tiêu ở một số vùng trồng tiêu chủ yếu ở Việt Nam, phương thức lây truyền của bệnh và đề xuất biện pháp phòng trừ [5], [41]. + Theo Phan Đức Sơn (2003) đã xác định được 9 loài virus hại cây tiêu ở Các tỉnh Bà Rịa — Vũng tàu, Bình Phước, Kiên Giang. + Nguyễn Tăng Tôn và Bùi Chí Bửu (2005) đã nghiên cứu vai trò gây hại của nắm Phyfophthora capsici trên cây tiêu, phương pháp chân đoán bệnh chết nhanh do loài nắm này, phương pháp phòng trừ tác hại của nắm.
Các loài virus khác gây bệnh cho cây tiêu gồm PYMV, CMV, TMV, Badna virus.[46] + Theo kết quả nghiên cứu của Đoàn Thị Ai Thuyền (2006), trên cây tiêu. ở nước ta có 6 loài virus ở vùng Đông Nam Bộ. Nghiên cứu về sâu Các công trình nghiên cứu về sâu hại cây tiêu ở Việt Nam còn ít ỏi, đặc biệt là ho rép sap gia (Pseudococcida: Heteroptera). + Nguyễn Thị Chắt (2005) đã ghi nhận có 9 loài rệp sáp hại cây tiêu (1.
Dysmicoccus sp hai qua; 2. Ferrisia virgata hai la và qua; 3. Aonidiella ciritra hai qua; 4. Coccus hesperium hai la; 5.
Crystallotesla sp hai than, lá; 6. Icerya seychelarum hại qua; 7. Pseudalacaspis sp hai la, qua; 8. Sticticoccus sp hại thân và một loai chưa định danh [2].
+ Nguyễn Xuân Thanh và Phạm Thị Thùy (2005) cũng đã xác định loài tệp sáp Planococeus citri Risso gây hại trên cây tiêu [6]. + Nguyễn Thị Thùy (2011) đã nghiên cứu một số ảnh hưởng đến mức độ phát sinh, gây hại của loài rệp sáp mềm tua ngắn (Planococcus kraunhiae Kuwana) trên cây tiêu và cây cà phê tại Daklak [9]. TINH HiINH NGHIEN CUU REP SAP FERRISIA VIRGATA (COCKERELL) HAI CAY TIEU TREN THE GIOI VA VIET NAM 1. Trên thế giới Loai rép sap soc vin Ferrisia virgata (Cockerell, 1983) là một loài có vai trò quan trọng, gây hại nhiều loại cây trồng và cây dại khác nhau và có vùng phân bố rộng.
Chính vì vậy, có khá nhiều các công trình nghiên cứu về loài này được công bố ở nhiều quốc gia. Tuy nhiên, với mục đích nghiên cứu khác nhau và vai trò gây hại của loài này ở các nước trên thế giới không giống. nhau nên nội dung và kết quả nghiên cứu đã được công bố về loài rệp sáp Ferresia virgafa cũng khác nhau. Mặc dù vậy, có thể nêu tóm tắt các hướng nghiên cứu chính về loài này trên thế giới như sau: Hướng nghiên cứu về khả năng lây truyền vi rút lên cây chủ: Đây là hướng có nhiều công trình công bố nhất.
Tiêu biểu có các công trình của A. Devasahayam et all [14], D.AbdullaKoya và Mini Kallil [31], Kueh, TK [34], William D. Hướng nghiên cứu về hình thái phân loại học bao gồm các kết quả được công bố về 11 loài trong giống Ferrisia va mô tả đặc điểm hình thái các pha phat trié. Điển hình có các công trình của Douglass R.
Culik, David dos Santos Martins va PennyJ. Ghose [43] Hướng nghiên cứu về đặc điểm sinh học được quan tâm từ rất sớm và kết quả công bố khá phong phú. Đó là khả năng sinh sản, vòng đời, nuôi sinh học và vai trò gây hại của loài Ferzisia virgata trên các loại cây trồng khác nhau. Tiêu biểu có các công trình nghiên cứu của Highland, H.
Một hướng nghiên cứu khác cũng được quan tâm và chú trọng đó là nghiên cứu các đặc điểm sinh thái (bao gồm nghiên cứu sinh thái ngoài tự nhiên và nghiên cứu sinh thái trong phòng thí nghiệm). Nổi bật có các công trình đã được công bố về phân bố, cây chủ, biến động số lượng. Điển hình có các công trình của Ben ~ Dov Y[17], Devasahayam[20], K. Abdulla Koya va Mini Kallil[31], Kiyindou, A.