CHƯƠNG 1: LỊCH SỬ VẤN ĐỀ, CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Lịch sử nghiên cứu thành ngữ, quán ngữ Đối với tiếng Việt, đã từ lâu người ta nhận thấy có những đơn vị có giá trị hình ảnh, tu từ, thường đặc trưng bởi những kiểu cấu trúc đặc biệt, có tiết tấu, vần điệu rõ ràng hoặc có cả lối lặp âm hài hòa. Những đơn vị như thế thường được dùng với những mục đích tu từ, những phương tiện biểu cảm. Chúng xuất hiện và phát triển cùng với ngôn ngữ, gốc rễ của chúng thường ăn sâu vào quá khứ hằng bao thế kỷ.
Đó chính là những thành ngữ. Ví dụ: Của ăn của để; Già néo đứt dây; Rút dây động rừng; Mèo mả gà đồng, Cạn tàu ráo máng, Ăn cháo đá bát…. Cũng như tất cả những đơn vị ngôn ngữ khác, chúng tồn tại một cách khách quan trong ngôn ngữ, độc lập đối với những quan niệm chủ quan của các nhà nghiên cứu về chúng và có giá trị tự nhiên về mặt nhân sinh, diễn đạt. Do đó, từ lâu thành ngữ đã là vấn đề dành được sự quan tâm đặc biệt của các nhà ngôn ngữ học.
Cho đến nay đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về thành ngữ ở tất cả các phương diện hình thái cấu trúc, ngữ nghĩa và văn hóa song công trình nghiên cứu thành ngữ đầu tiên trong tiếng Việt là “Về tục ngữ và ca dao” của Phạm Quỳnh được công bố vào năm 1921. Nhưng chỉ từ những năm 60 của thế kỷ 20 dưới ảnh hưởng trực tiếp của các nhà ngôn ngữ học Nga, việc nghiên cứu thành ngữ học tiếng Việt mới có được cơ sở khoa học nghiêm túc. Vào năm 1976 tác giả Hồ Lê khi đi vào nghiên cứu cấu tạo từ tiếng Việt đã nêu ra một vài đặc điểm khái quát về cấu tạo của thành ngữ. Ông cho rằng “thành ngữ là một tổ hợp từ cố định về cấu trúc, có nghĩa bóng, được sử dụng để miêu tả những hình ảnh, những hiện tượng, tính cách hoặc quan hệ”.
Năm 1978, Đái Xuân Ninh đã đề cập tới sự phân biệt giữa hai đơn vị là thành ngữ và tục ngữ. Sau đó tác giả đã phân loại 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thành ngữ dựa trên những đặc điểm ngữ pháp của nó và miêu tả một vài đặc điểm về nội dung cũng như hình thức của thành ngữ. Cuối cùng tác giả đã nêu một số nét khái quát về thành ngữ 4 âm tiết như một đặc trưng nổi bật của thành ngữ tiếng Việt. Cũng trong năm đó Nguyễn Văn Tu đã mô tả một vài đặc điểm của thành ngữ khi nghiên cứu từ và vốn từ hiện đại.
Trong giáo trình của mình, Đỗ Hữu Châu đã nghiên cứu về ngữ cố định, bắt đầu bằng việc tìm ra giá trị ngữ nghĩa của ngữ cố định. Và phân loại ngữ cố định dựa trên sự tương ứng hay không tương ứng với từ sẵn có. Đỗ Hữu Châu cũng phân loại thành ngữ tiếng Việt thành thành ngữ có kết cấu câu và thành ngữ có kết cấu cụm từ. Năm 1985, Nguyễn Thiện Giáp cũng đưa ra quan điểm của mình về thành ngữ và phân loại thành thành ngữ hợp kết và thành ngữ hòa kết dựa trên cơ chế cấu tạo của nó rồi đưa ra một số đặc điểm về cấu trúc và ngữ nghĩa của thành ngữ thông qua việc phân biệt nó với các thành phần khác.
Những năm gần đây các công trình nghiên cứu về thành ngữ tiếng Việt xuất hiện ngày càng nhiều như: Thành ngữ học tiếng Việt [13], Thành ngữ bốn yếu tố trong tiếng Việt [14]… và các cuốn từ điển như: Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam [5], Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam [21], Từ điển giải thích thành ngữ tiếng Việt [40], Tân từ điển thành ngữ Việt Nam [37]. Ngoài ra còn có các công trình thạc sĩ, tiến sĩ khác như: Bình diện cấu trúc hình thái ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt [9], Đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của thành ngữ, tục ngữ Nghệ Tĩnh (trong quan hệ với văn hóa địa phương) [29], Khảo sát thành ngữ trong tác phẩm Hồ Chí Minh toàn tập [20], Khảo sát các thành ngữ và tục ngữ xuất hiện trên báo phụ nữ Việt Nam thời kỳ đổi mới (1985 – 2005) [4]… Có thể nói nhìn một cách tổng thể, các tác giả đã có rất nhiều đóng góp quý báu, họ đã có công lớn trong việc khai phá những vấn đề có liên quan đến 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thành ngữ và có nhiều phát hiện bất ngờ thú vị. Song có thể thấy khi xã hội ngày càng đổi mới, sự xuất hiện của các cụm từ cố định mới sẽ ngày một nhiều hơn. Những cụm từ cố định mới này trải qua một thời gian dài sử dụng, nó dần dần hội tụ các tiêu chí để được coi là thành ngữ.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu những thành ngữ thời hiện đại này càng phải được quan tâm hơn. Đặc biệt là bình diện nội dung nghĩa của chúng. Về phía quán ngữ, có thể thấy trong hàng chục đầu sách nghiên cứu về từ vựng hiện đại chỉ có độ vài ba tác phẩm viết vài dòng về quán ngữ mà thôi. Nổi bật có các tác giả như Nguyễn Văn Tu, Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Hữu Châu, đặc biệt là Hoàng Trọng Phiến bởi ông là người đã đề cập trực tiếp và định nghĩa quán ngữ trong công trình của mình như là những gợi mở cho các hướng nghiên cứu sâu hơn và quy mô hơn.
Đặc biệt Hoàng Trọng Phiến đã liệt kê được gần 500 quán ngữ trong công trình từ điển giải thích hư từ tiếng Việt của tác giả cũng như Đỗ Thanh và các đồng sự đã bổ sung hàng trăm đơn vị nữa trong tác phẩm từ điển nói về công cụ tiếng Việt của họ. Có thể tìm thấy các nghiên cứu về quán ngữ trong Từ vựng học tiếng Việt hiện đại [32],Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt [3], Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt [2]… Ngoài ra, còn có các khóa luận, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ khác cũng đề cập về vấn đề này như: Những quán ngữ có sắc thái tiêu cực trong tiếng Việt [1], Bước đầu khảo sát các quán ngữ trong văn bản khoa học giai đoạn 1950 – 2000[15], Vai trò của quán ngữ trong việc kiến tạo phát ngôn (Trên cứ liệu tiếng Anh và tiếng Việt) [16]…. Đối với hầu hết các tác giả quán ngữ là ngữ cố định là một kiểu loại của thành ngữ nên họ thường xét chung với thành ngữ. Có thể nói từ trước tới nay, các công trình nghiên cứu về thành ngữ, quán ngữ tương đối nhiều song chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại cũng như những giá trị biểu trưng của nó.
16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chính vì vậy thiết nghĩ việc khảo sát thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại và giá trị biểu trưng của nó là việc hết sức cần thiết. Trước hết ở đây chúng tôi sẽ đi xem xét quan niệm của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam về thành ngữ, quán ngữ trước khi đưa ra quan niệm của mình. Dựa vào đó, chúng tôi đi vào phân tích đặc điểm cấu tạo cùng nội dung ý nghĩa và giá trị biểu trưng của các thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại này.Quan niệm của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam về thành ngữ, quán ngữ 1. Quan niệm của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam về thành ngữ Thành ngữ là một trong những kho tàng có giá trị về ngôn ngữ - văn hóa của mỗi dân tộc.
Hầu hết các đơn vị thành ngữ đều do nhân dân sáng tác, được truyền từ đời này sang đời khác nên mang đậm tính chất dân gian và tính bình dị đời thường. Thành ngữ chứa đựng đầy đủ những đặc tính sáng tạo của lối nói dân gian. Đó là lối ví von so sánh, mang tính hình tượng, cụ thể, gợi cảm, lối khoa trương, trào lộng, dí dỏm và tế nhị, lối nói linh hoạt và giàu nhạc điệu, đồng thời cũng rất giàu hình ảnh, sinh động, cô đọng, hàm súc theo lối cấu trúc đơn giản nên rất dễ nhớ, dễ thuộc. Do đó thành ngữ được vận dụng rất nhiều trong cuộc sống một cách nhuần nhuyễn và tự nhiên.
Trong tiếng Việt thành ngữ có một khối lượng lớn, rất đa dạng và phong phú. Cùng phát triển với tiếng nói dân tộc, thành ngữ dần dần được hình thành, được nhân dân sử dụng như một công cụ giao tế chung. Phát triển thành ngữ là một trong những cách tốt để bổ sung cho vốn từ của một ngôn ngữ. Xét về mặt tu từ, thành ngữ đã góp phần làm giàu, làm đẹp cho tiếng Việt về nhiều phương diện.
Mặt khác do hình thành và phát triển trong lịch sử lâu dài của dân tộc, thành ngữ là những cụm từ cố định hay ngữ cố định, có nội dung ngữ nghĩa sâu rộng nên nó cũng giữ được nhiều khái niệm thuộc về truyền thống. Những 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khái niệm này đã phản ánh nhiều mặt tri thức về giới tự nhiên và đời sống xã hội của các thời đại đã sản sinh ra nó trên đất nước Việt Nam. Chính vì vậy, việc sưu tập và nghiên cứu thành ngữ lâu nay đã được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm tới. Điều đó cũng thể hiện ở sự đa dạng trong quan niệm về thành ngữ.
Chẳng hạn theo tác giả Nguyễn Văn Tu: “Thành ngữ là những cụm từ cố định mà các từ trong đó đã mất đi tính độc lập đến một trình cao, kết hợp làm thành một khối vững chắc, hoàn chỉnh. Nghĩa của chúng không phải do nghĩa của từng thành tố (từ) tạo ra. Những thành ngữ này cũng có tính hình tượng hoặc cũng có thể không có. Nghĩa của chúng đã khác nghĩa của những từ nhưng cũng có thể cắt nghĩa bằng từ nguyên học”.
[33,147] Chẳng hạn, tác giả giải thích thành ngữ mẹ tròn con vuông rất hoàn chỉnh về mặt kết cấu, trật tự của các từ không sáo trộn được, các từ phải gắn bó với nhau, nghĩa rất hoàn chỉnh và khác nghĩa của từng từ. Thành ngữ này có nghĩa người đàn bà mới đẻ không có việc gì xảy ra cả. Việc sinh nở tốt và không gặp trở ngại gì, mẹ con đều khỏe mạnh. Hơn thế nữa ta cũng không thể bỏ một từ nào đi được mà cũng không thể thay đổi trật tự của những từ trong đó.
Bên cạnh đó, Nguyễn Văn Tu cũng cho rằng: “Một số thành ngữ trong tiếng Việt có tính chất kiểu điển tích, điển cố nhưng nghĩa điển tích, điển cố ấy không còn được nhớ lại nữa, thậm chí là những người dùng hiện nay không cần biết lai lịch của những thành ngữ ấy”.