mở đầu mùa xuân 1975 - ngày 10/3 giải phóng Buôn Ma Thuôt; đƣờng Săm Brăm, con đƣờng lấy tên của một nhân vật - là ngƣời dân tộc Chăm, có vai trò lịch sử trong cuộc đấu tranh chống Pháp ở đây, với "Phong trào Nƣớc xu"(1930-1936). [Dẫn theo 29] Ngoài ra, địa danh còn phản ánh đặc điểm văn hóa của một vùng cƣ dân (phƣờng Thanh Bình, thôn Tân Tiến, thôn Vườn Hoa. Đối tượng nghiên cứu của địa danh Xác định đối tƣợng nghiên cứu cũng là một trong những vấn đề còn nhiều ý kiến bàn luận. ở đây, chúng tôi xin đề cập đến hai khía cạnh của vấn đề, đó là: 1) Việc xác định thành tố nào đƣợc gọi là địa danh trong tổ hợp từ (hoặc ngữ); 2) Việc xác định đối tƣợng địa lý nào đƣợc gọi là địa danh trong các đối tƣợng địa lý.
Về nội dung này, chúng tôi tán thành quan điểm của tác giả Lê Trung Hoa [44][56]. Trƣớc hết, ngƣời nghiên cứu cần xác định nội hàm của địa danh. Theo quan điểm của chúng tôi, địa danh là tên gọi các đối tƣợng địa lý, bao gồm địa lý tự nhiên và địa lý do con ngƣời kiến tạo. Loại đối tƣợng địa lý do con ngƣời kiến tạo lại có thể chia TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khảo sát một vài vấn đề địa danh Ninh Bình – Phạm Thị Hồng Nhung làm hai loại: 1) Loại đối tƣợng là địa bàn cƣ trú; 2) Loại đối tƣợng là các công trình xây dựng.
Về tên gọi, với loại đối tƣợng là địa lý tự nhiên (sông, suối, núi, đồi.) và đối tƣợng là địa bàn cƣ trú thì vấn đề đã sáng rõ. Đa số các nhà nghiên cứu xem đó là những địa danh. Các công trình xây dựng lại có sự "tiếp giáp" với hiệu danh và vật danh nên vấn đề trở nên phức tạp hơn. Tên cầu, đƣờng, chợ, sân vận động, công viên,.dễ dàng đƣợc xem là địa danh.
Riêng tên chùa, đình, miếu, nhà thờ,. thì vấn đề lại không đơn giản. Hiện vẫn chƣa có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu. Các tác giả của Địa danh Hà Nội, Địa danh Hải Phòng xếp các đối tƣợng này vào địa danh, ví dụ: Nhà Hát Lớn, Nhà 312 Khâm Thiên, Đình áng Dƣơng, Chùa Thái.trong lúc phần lớn các nhà nghiên cứu khác không đồng tình với quan điểm này.
Tác giả Lê Trung Hoa [44, tr.14] cho rằng: "Tên các công trình thiên về không gian hai chiều là địa danh (nhƣ tên cầu, đƣờng, công viên.); còn tên các công trình thiên về không gian ba chiều (nhƣ tên chùa, nhà thờ, trƣờng học, cơ quan.) là hiệu danh". Chúng tôi đồng ý với quan điểm này. Việc xác định thành tố đƣợc gọi là địa danh trong tổ hợp từ cũng có ý kiến chƣa thống nhất. Một số ý kiến cho rằng địa danh bao gồm hai thành tố.
Thành tố thứ nhất chỉ loại đối tƣợng địa lý (tên chung), thành tố thứ hai khu biệt đối tƣợng (tên riêng). Ví dụ: thành phố Hồ Chí Minh, huyện Krông Ana, thị xã Hội An, xã Êa Tuôr. là những địa danh. Quan điểm của chúng tôi là mặc dù mỗi địa danh Việt Nam chúng ta đều có thể đặt phía trƣớc một danh từ chung để chỉ tiểu loại của địa danh, nhƣng yếu tố chung này không phải là một thành tố của địa danh, bởi địa danh là tên gọi một đối tƣợng địa lý cụ thể nên nó là tên riêng.
Hiện nay, phần lớn các nhà biên soạn từ điển địa danh chỉ chấp nhận phần tên riêng trong tổ hợp từ. Đinh Xuân Vịnh đã xếp địa danh thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh vào vần H, huyện Thanh Trì vào vần T, thị xã Buôn Ma Thuột vào vần B. Cách sắp xếp của các tác giả này theo chúng tôi là có sự hợp lý. Chúng ta có thể nói: "đi Hà Nội, đi Huế, đến Hội An, vào Dak Lăk,.
Tuy nhiên, vấn đề này cũng không phải không có sự phức tạp của nó. Trong một số trƣờng hợp gần nhƣ khó có thể tách thành tố thứ nhất ra khỏi tổ hợp của chúng nhƣ địa danh là một số đếm hay địa danh đƣợc gọi theo nhân danh. Ví dụ, khó có thể chấp nhận TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khảo sát một vài vấn đề địa danh Ninh Bình – Phạm Thị Hồng Nhung trƣờng hợp "đi (TP) Hồ Chí Minh, đi qua (đƣờng) Hùng Vƣơng, đến (thôn) 3, vào (quận) 5, thăm (bãi) Cháy”. Đối với địa danh bằng số, theo chúng tôi nên đƣa vào danh mục các địa danh và sắp xếp vần có chữ cái đầu của từ biểu thị số đó.
Mối quan hệ giữa địa danh học với các ngành khoa học khác Là sản phẩm của quá trình nhận thức và định danh, tên riêng nói chung và địa danh nói riêng còn chịu tác động của các yếu tố ngoài ngôn ngữ: đặc điểm quá trình tộc ngƣời, đặc điểm lịch sử, không khí chính trị thời đại, đặc điểm tâm lý xã hội, trình độ. Cùng với tác động của quy luật ngôn ngữ, các yếu tố đó tạo nên đặc điểm văn hóa của địa danh. Địa danh có tính bảo lƣu hơn so với nhân danh, vật danh, hiệu danh, vì chúng ra đời và tồn tại gắn với cộng đồng sử dụng nó. Những thông tin qua địa danh cung cấp cho ta nhiều tài liệu quý về dân tộc, lịch sử, văn hóa, địa lý, kinh tế, xã hội,.
- Đối với dân tộc học, hệ thống địa danh là chứng nhân đáng tin cậy của quá trình hình thành một cộng đồng, nơi cƣ trú của một tộc ngƣời nào đấy. Ví dụ: địa danh có thành tố chung là dak, yôk hoặc nâm ta có thể xác định đó là nơi sinh sống của cƣ dân Mnông. Địa danh có thành tố chung là êa, čửự có thể dễ dàng xác định là nơi cƣ trú của cƣ dân Êđê hoặc Jrai. Nếu thành tố chung là sóc thì ở đó là địa danh của nhóm dân tộc Khmer hoặc Stiêng.
[ Dẫn theo 29 , tr. Căn cứ vào thời gian xuất hiện của địa danh, ta có thể biết đƣợc thời điểm định cƣ, địa bàn sinh sống của một cộng đồng. Ví dụ: thôn Nộn Khê là địa danh ghi nhận dấu ấn thời điểm các ngƣời dân Lục Nộn, Nam Châu (nay là huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam) di chuyển vào vùng đất bồi ven đê Hồng Đức, lập ấp, đặt tên là Nộn Khê, ghép từ tên của hai quê cũ là Lục Nộn và Côi Khê. Nhƣ vậy, muốn qua địa danh để tìm hiểu quá trình tộc ngƣời, chúng ta phải tìm hiểu theo nhiều cách nhƣng chủ yếu là "lột tả" đƣợc các thành tố chung đã cấu thành địa danh và sự phân bố của chúng.
Việc xác định các lớp tên gọi địa lý, việc xác lập sự phân bố của các thành tố chung trong cấu tạo địa danh giúp ta có thêm tƣ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khảo sát một vài vấn đề địa danh Ninh Bình – Phạm Thị Hồng Nhung liệu để tìm hiểu các vấn đề về tộc ngƣời Việt Nam. Ngƣợc lại, những cứ liệu về dân tộc học giúp địa danh học xác định đƣợc các lớp địa danh, ý nghĩa và nguồn gốc của chúng. - Đối với lịch sử, hệ thống địa danh đều ít nhiều ghi dấu ấn qua những sự kiện, những biến động lịch sử trên địa bàn.Ví dụ: xã Trường Yên, thôn Hành Cung. Qua địa danh có thể phục nguyên lại một địa bàn, một khu vực địa lý nào đó mà thời gian đã làm mất đi cái ranh giới cổ xƣa.
Chẳng hạn, địa danh thị trấn Me cho phép ta liên tƣởng đến một vùng đất mà trƣớc đây là một khu đồi có rất nhiều cây me. Bản Đẩm Rừng là một bản của đồng bào Mƣờng nằm trên một khu đất mà xung quanh chủ yếu là rừng và các bãi sình lầy. thôn Đồi Khoai là một khu vực trƣớc đây có đồi trồng khoai. Đồng thời qua lịch sử, ta có thể dễ dàng xác định đƣợc nguồn gốc ngữ nguyên và các phƣơng thức định danh.
- Địa danh còn có liên quan trực tiếp và chặt chẽ với địa lý. Qua địa danh, chúng ta biết đƣợc cảnh quan thiên nhiên, đặc điểm địa hình của địa bàn. Địa danh giúp ta tìm kiếm một con sông, con suối, ngọn núi, đặc điểm sinh thái., giúp hiểu đƣợc điều kiện, môi trƣờng cuộc sống của ngƣời xƣa. - Địa danh và bản đồ cũng có mối quan hệ hai chiều.
Địa danh cung cấp cho ngƣời lập bản đồ cách thể hiện chữ viết, sự chuẩn mực ngôn ngữ. Bản đồ lại giúp ngƣời nghiên cứu địa danh tìm kiếm đối tƣợng mà mình quan tâm. Địa danh còn cho biết một số thông tin về văn hóa, chính trị- xã hội, đặc điểm tâm lý, tôn giáo, về chính sách, sự quản lý hành chính, trong việc phân vùng lãnh thổ, điều chỉnh địa giới của chính quyền nhà nƣớc qua các thời kỳ, trong xu hƣớng đặt tên mới, thay tên cũ,.Đồng thời, những vấn đề của xã hội học, văn hóa học,. giúp địa danh học xác định đƣợc các phƣơng thức định danh, các lớp địa danh, sự biến đổi của địa danh và nguyên nhân của chúng.
- Đối với ngôn ngữ học, địa danh học cũng đóng góp nhiều tƣ liệu quý, nhất là trong lĩnh vực nghiên cứu lịch sử tiếng Việt. Địa danh học vừa là"thành tố" vừa là "đối tác'' của ngôn ngữ học. Nhƣ ta đã biết, ngôn ngữ học có ba ngành chính: ngữ âm học, từ vựng học, ngữ pháp học. Trong từ vựng học có một ngành nhỏ là danh xƣng học (Onomasiologie), chuyên nghiên cứu về tên gọi.
Danh xƣng học lại có thể TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khảo sát một vài vấn đề địa danh Ninh Bình – Phạm Thị Hồng Nhung chia làm ba ngành nhỏ hơn: nhân danh học, hiệu danh học và địa danh học. Nhân danh học (anthroponymie) chuyên nghiên cứu tên ngƣời (gồm tên họ, tên đệm, tên thật, tên hiệu, tên tự, bút danh, bí danh. Hiệu danh học chuyên nghiên cứu tên các công sở, trƣờng học, nhà máy, xí nghiệp, các thƣơng hiệu, cửa hiệu. Địa danh học (toponymie) nghiên cứu tên riêng địa lý trên các lĩnh vực, các đặc trƣng của chúng nhƣ phƣơng thức đặt tên, cấu tạo, nguồn gốc, ý nghĩa, sự hình thành và những biến đổi tên gọi của đối tƣợng địa lý (địa danh) đó.
Nhƣ vậy,địa danh, nhân danh và hiệu danh đều là bộ phận của danh xƣng, là các đối tƣợng của danh xƣng học thuộc từ vựng học. Địa danh, nhân danh, hiệu danh nằm trong hệ thống tên riêng hợp với các từ chung tạo nên vốn từ vựng có trong đời sống giao tiếp. Sự khác nhau cơ bản giữa địa danh và nhân danh, hiệu danh là ở đối tƣợng đƣợc gọi tên; là tính hệ thống trong xu hƣớng và quá trình định danh.