mở đầu cuộc giao tiếp thân tình. * Điều kiện sử dụng các hành vi ở lời gián tiếp: Theo Giáo sư Đỗ Hữu Châu, có một số điều kiện tổng quát sau: a. Hành vi ngôn ngữ gián tiếp lệ thuộc rất mạnh vào ngữ cảnh Trong hoạt động giao tiếp, ngữ cảnh là một yếu tố vô cùng quan trọng. Mọi phát ngôn thường phải đặt trong ngữ cảnh cụ thể thì đối tượng giao tiếp mới hiểu được nội dung cũng như mục đích của các hành vi ở lời, nhất là các hành vi ở lời gián tiếp.
Hành vi ngôn ngữ gián tiếp phải chú ý đến quan hệ ngữ nghĩa giữa các thành phần của nội dung mệnh đề trong biểu thức ngữ vi trực tiếp với ngữ cảnh. Sp1: Em có biết, ai là người bận rộn nhất nhà không ? Sp2: (1) Mẹ là người bận rộn nhất. (2) Mẹ chứ ai ! Để trả lời câu hỏi của Sp1, Sp2 có thể đưa ra nhiều cách trả lời. Khi Sp2 chọn dùng phát ngôn (1) thì đây là một câu khẳng định trực tiếp gần với 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cách trả lời thông thường.
Nếu Sp2 dùng phát ngôn (2) thì câu trả lời lại là một câu khẳng định gián tiếp. Đây là một câu hỏi (cụm từ để hỏi chứ ai) mang mục đích khẳng định, trong đó “mẹ” là ngữ nghĩa của thành phần mệnh đề hỏi nên hiệu lực khẳng định gián tiếp của câu có mức độ nhấn mạnh hơn, rõ nét hơn. Muốn nhận biết được hành vi ở lời gián tiếp, trước hết phải nhận biết phát ngôn nghe được, đọc được qua biểu thức ngữ vi cốt lõi, do hành vi ở lời trực tiếp nào tạo ra. Hành vi ở lời gián tiếp còn bị quy định bởi lý thuyết lập luận, các phương châm hội thoại, phép lịch sự, các quy tắc liên kết, các quy tắc hội thoại.
Nhìn chung, những hành vi ngôn ngữ gián tiếp được hội nhập với tính lịch sự cao hơn so với hành vi ngôn ngữ trực tiếp. Theo GS Đỗ Hữu Châu “đây là lĩnh vực của một loại biện pháp tu từ bằng các hành vi ở lời. Động từ ngữ vi (ĐTNV), Biểu thức ngữ vi (BTNV) và Phát ngôn ngữ vi (PNNV) 1.1 ĐTNV Trong mỗi ngôn ngữ đều có một số động từ khi chúng ta nói chúng ra cũng tức là chúng ta đồng thời thực hiện HV mà các động từ đó gọi tên. Austin gọi đó là các ĐTNV.
Đó là những động từ mà khi phát ngôn người nói thực hiện luôn cái hành động ở lời do chúng biểu thị như: hỏi, xin, trả lời, khuyên, hứa, cảm ơn, thề, cảnh cáo … Điều kiện để ĐTNV thực hiện đúng chức năng của chúng: Chủ thể nói phải ở ngôi thứ nhất (người nói Sp1) Bổ ngữ của động từ phải ở ngôi thứ hai Phải được dùng ở thời hiện tại (hiện tại phát ngôn) Không có các động từ chỉ các tình thái khác nhau của động từ như đã, sẽ, đang, mới, rồi, chưa, chuẩn bị. 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ví dụ: Tôi xin chào bác sĩ. Ở ví dụ trên, động từ chào là ĐTNV, động từ này được dùng đúng chức năng ngữ vi: ở thời hiện tại, không có các phụ từ chỉ thời gian, chủ ngữ - người nói chào (tôi) được dùng ở ngôi thứ nhất. Nếu không hội đủ các điều kiện trên thì ĐTNV vẫn được dùng như các động từ miêu tả thông thường.
Ví dụ: Nó đã chào anh rồi mà. Động từ chào ở câu trên được dùng như động từ miêu tả vì nó có từ “đã” xuất hiện trong câu.2 BTNV Trong giáo trình “Đại cương ngôn ngữ học” tập II, Đỗ Hữu Châu (2010) đã định nghĩa biểu thức ngữ vi như sau: “Biểu thức ngữ vi là những thể thức nói năng đặc trưng cho một hành vi ở lời” [2, 92] và “Phát ngôn ngữ vi có một kết cấu lõi đặc trưng cho hành vi ở lời tạo ra nó. Kết cấu đó được gọi là biểu thức ngữ vi. Nhờ các BTNV chúng ta nhận biết được các HVOL.
Austin đã dựa vào sự có mặt hay vắng mặt của ĐTNV để chia BTNV làm 2 loại: BTNV tường minh (trực tiếp) và BTNV nguyên cấp (hàm ẩn, gián tiếp). * BTNV tường minh (trực tiếp) là những biểu thức có chứa ĐTNV ở chức năng ngữ vi. * BTNV nguyên cấp (BTNV hàm ẩn, BTNV gián tiếp) là BTNV không chứa ĐTNV ở chức năng ngữ vi. Ví dụ: A: Chị dạo này trông trắng thế.
Em đi làm về à? Câu “chị dạo này trông trắng thế.” là câu chào của A đối với B. Mặc dù trong câu chào không có ĐTNV chào nhưng câu mang ý nghĩa chào hỏi, 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com được dùng với mục đích giao tiếp.3 PNNV Đỗ Hữu Châu cho rằng “PNNV là phát ngôn – sản phẩm của một HVOL nào đó khi HV này được thực hiện một cách trực tiếp, chân thực. PNNV tối thiểu là phát ngôn chỉ có BTNV. Trong giao tiếp thường ngày, PNNV thường mở rộng, có BTNV và các thành phần mở rộng ”.
[2, 91] Nói khác đi thì PNNV là sự hiện thực hóa một biểu thức ngữ vi trong một ngữ cảnh cụ thể. Phát ngôn ngữ vi tối giản là phát ngôn ngữ vi chỉ có BTNV. Một PNNV có nòng cốt chính là BTNV và phần mở rộng. Có thể hiểu một PNNV như sau : PNNV = (phần mở rộng) + BTNV + (phần mở rộng) Nhìn vào mô hình trên ta thấy có một số trường hợp sau đây: PNNV chỉ gồm một BTNV Ví dụ: Chào cô giáo.
PNNV gồm: phần mở rộng + BTNV Ví dụ : Dạ chào cô giáo. PNNV gồm: phần mở rộng + BTNV + phần mở rộng Ví dụ : Dạ chào cô giáo ạ. Các phát ngôn trên là PNNV, sản phẩm HVOL chào hỏi, HVCH này được thực hiện một cách trực tiếp, chân thực. Trong các phát ngôn trên: “chào cô giáo” là BTNV chào hỏi.
“Dạ”, “ạ” là thành phần mở rộng của BTNV chào hỏi. Hội thoại và các khái niệm liên quan Việc nghiên cứu HVNN không thể cô lập mà phải đặt và chuỗi HVNN, tức là xem xét HV đi trước và đi sau nó. Việc nghiên cứu hành vi chào và mời phải được đặt trong hội thoại. Lí thuyết hội thoại gồm nhiều vấn đề, ở đây chúng tôi chỉ trình bày một số nội dung liên quan đến quá trình triển khai đề tài.
Hội thoại là một hoạt động giao tiếp hai chiều gồm một người nói và 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com một người nghe và phản hồi trở lại. Hội thoại không phải là hoạt động dành cho một phía tức là một người nói với chính bản thân mình. Hội thoại cũng có thể là từ ba bên hoặc nhiều hơn nhưng hội thoại hai bên là quan trọng nhất. Trong hội thoại, bên nói và bên nghe cũng có những phản hồi nhất định với nhau.
Trong quá trình tham gia hội thoại thì hai bên sẽ chịu tác động từ bối cảnh giao tiếp, bối cảnh xã hội và kiểu tiếp xúc giữa hai bên. Song nền tảng cơ bản của hội thoại vẫn là cấu trúc bên nói – bên nghe và ngược lại. Theo Đỗ Hữu Châu có nhiều yếu tố liên quan đến hội thoại như: thời gian, không gian, nơi chốn, lượng người tham gia cuộc hội thoại, tư cách cương vị của người tham gia cuộc thoại, tính chất cuộc thoại, về tính có đích hay không có đích, về tính hình thức hay không hình thức, về vị thế giao tiếp, về ngữ điệu hay các tác động kèm lời… Tất cả những yếu tố trên đây không tách rời nhau mà liên kết tạo thành khối thống nhất điều hòa chi phối hội thoại. Như vậy, hội thoại là một hoạt động xã hội quan trọng và trong nó chứa nhiều yếu tố .Các yếu tố ấy cũng chi phối và kéo hội thoại vào trong một hoạt động theo những yêu cầu riêng biệt.
Người tham gia hội thoại cũng sẽ phải tuân theo những hoạt động ấy, những yếu tố ấy. Nếu người tham thoại mà không cung cấp lời đáp hay phản hồi thông tin trở lại thì cuộc thoại sẽ trở nên căng thẳng và có nguy cơ phá vỡ cuộc thoại. Để cuộc thoại có được kết quả thì ngoài các yếu tố chi phối cuộc thoại ra hai bên phải cùng có biểu lộ “nhiệt tình” với đối ngôn của mình tức là phải chuẩn bị tích cực “thông tin” từ phía mình để mong muốn đổi lại những điều mà mình mong muốn nhận được. Đoạn thoại Theo Đỗ Hữu Châu [19, 208-209], đọan thoại là mảng diễn ngôn do một cặp trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa hoặc về ngữ dụng.
Trong đoạn thoại, những người tham gia hội thoại nói về một chủ đề duy 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Việc phân định đoạn thoại không dễ dàng bởi những danh giới mơ hồ, đôi khi phải dựa vào trực cảm và võ đoán. Có thể ít nhiều định hình đoạn thoại qua cấu trúc: đoạn mở thoại, đoạn thân thoại, đoạn kết thoại. Đoạn mở thoại liên quan đến hành vi chào, đoạn thân thoại liên quan đến hành vi mời.
Ngữ cảnh Hội thoại bao giờ cũng xảy ra trong một ngữ cảnh nhất định. Các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp được gọi chung là ngữ cảnh. Hành vi chào và mời trong hội thoại được xuất hiện trong ngữ cảnh xác định. Ngữ cảnh bao gồm các tình huống ngôn ngữ và ngữ cảnh tự nhiên xung quanh, đoạn thoại trước và sau đó, các quy tắc ứng xử, các khía cạnh liên quan như quan hệ thân-sơ, địa điểm, thời gian nơi diễn ra cuộc thoại, nội dung cuộc thoại có chứa hành vi chào và mời… Tất cả những yếu tố được gọi là ngữ cảnh ấy cùng tham dự vào cuộc thoại, quy định cách thức tiến hành cuộc thoại.
Lượt lời Lượt lời là sự tương tác qua lại trong hội thoại. Trong cuộc thoại người nói sẽ thay phiên nhau. Vai người nói sẽ thường xuyên thay đổi và lượt lời thứ nhất có chức năng định hướng cho lượt lời thứ hai. Hai lượt lời có quan hệ chặt chẽ, liên kết mật thiết tạo thành cặp thoại.
Lượt lời có chứa các hành vi trong đó có hành vi chào và mời. Các lượt lời trong cuộc hội thoại phải đảm bảo tính thống nhất nội dung phục vụ cho sự phát triển vấn đề, hướng tới đích của cuộc thoại là điều kiện cho cuộc thoại thành công. Quy tắc hội thoại Hội thoại diễn ra và bị chi phối theo những quy tắc nhất định.K Crechioni quy tắc hội thoại chia thành ba nhóm như sau: Các quy tắc về điều hành sự luân phiên lượt lời; những quy tắc chi phối cấu trúc của hội thoại; những quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân trong hội thoại. [2, 225] 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Lý thuyết lịch sự trong giao tiếp 1.