phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày theo bố cục gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan những vấn đề lý luận về du lịch văn hóa và việc nghiên cứu du lịch văn hóa Chăm An Giang. Thực trạng khai thác văn hóa Chăm phục vụ phát triển du lịch tỉnh An Giang. Một số giải pháp góp phần phát triển du lịch văn hóa Chăm ở An Giang 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1.
TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA VÀ VIỆC NGHIÊN CỨU DU LỊCH VĂN HÓA CHĂM AN GIANG 1. Những vấn đề lý luận về văn hóa và du lịch 1. Khái niệm văn hóa Từ xa xƣa, hai chữ “văn hóa” đã sớm xuất hiện trong ngôn ngữ loài ngƣời, đặc biệt ở những quốc gia đƣợc coi là cái nôi của văn minh nhân loại. Ở phƣơng Đông, từ “văn hóa” xuất hiện rất sớm trong ngôn ngữ Trung Quốc.
Ngay từ trƣớc Công nguyên, ở đời Tây Hán, trong bài “ Chi Vũ” sách “Thuyết Uyển”, Lƣu Hƣơng đã viết : “Bậc thánh nhân trị thiên hạ, trƣớc dùng văn đức rồi sau mới dùng vũ lực”. Phàm dùng vũ lực với ngƣời bất phục tùng, dùng văn hóa không thay đổi đƣợc thì sau đó sẽ “trừng phạt”. Nhƣ vậy văn hóa đƣợc dùng để đối lập với vũ lực. Ở phƣơng Tây, trong nền văn minh cổ đại Hy Lạp, từ văn hóa (cultus) có nghĩa là trồng trọt.
Từ nghĩa trồng trọt dần dần biến thành gieo trồng trí tuệ, tinh thần. Nhƣ vậy, trong quan niệm của ngƣời cổ đại, dù phƣơng Đông hay phƣơng Tây, văn hóa đã mang ý nghĩa giáo hóa con ngƣời. Nhƣ vậy, nói văn hóa là nói tới con ngƣời, nói tới việc phát huy những năng lực, bản chất của con ngƣời, nhằm hoàn thiện con ngƣời, hoàn thiện xã hội. Do đó, khái niệm văn hóa chứa đựng bản chất nhân văn, nhân bản.
Cơ sở của mọi hoạt động văn hóa là khát vọng vƣơn tới cái chân, cái thiện, cái mỹ. Có thể coi là 3 trụ cột vĩnh hằng của sự phát triển văn hóa nhân loại. Chừng nào, cái chân, cái thiện, cái mỹ bị lãng quên, chừng đó văn hóa sẽ xuống dốc. Cũng nhƣ mọi sinh thể khác trong vũ trụ, con ngƣời cũng là bộ phận của giới tự nhiên, chịu sự quy định chặt chẽ của giới tự nhiên.
Nhƣng khác với những sinh vật khác, con ngƣời còn có một “ khoảng trời riêng”, một phần tự nhiên thứ hai do con ngƣời tạo ra bằng lao động và tri thức của mình. Phần tự nhiên đó chính là văn hóa. Nếu giới tự nhiên 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com là cái nôi đầu tiên nuôi sống con ngƣời, thì văn hóa là cái nôi thứ hai, ở đó toàn bộ đời sống tinh thần của con ngƣời đƣợc hình thành, đƣợc nuôi dƣỡng và phát triển. Con ngƣời không thể tồn tại nếu tách rời giới tự nhiên, cũng nhƣ con ngƣời không thể trở thành con ngƣời nếu tách rời môi trƣờng văn hóa.
Vì văn hóa là phát huy những năng lực bản chất của con ngƣời, là sự thể hiện đầy đủ nhất chất ngƣời, nên văn hóa có mặt ở bất cứ họat động nào của con ngƣời, dù đó là hoạt động trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội hay cách cƣ xử, giao tiếp…cho đến cả những suy tƣ thầm kín nhất. Các khái niệm nhƣ nhân cách văn hóa, văn hóa lao động, văn hóa chính trị,…đang ngày càng đƣợc sử dụng rộng rãi trong ngôn ngữ xã hội. Tuy nhiên, điều đó không loại trừ sự tồn tại những lĩnh vực riêng của văn hóa, nghĩa là những hoạt động không thuộc lĩnh vực kinh tế, chính trị hay xã hội. Những lĩnh vực riêng của văn hóa mà ngƣời ta nói ở đây cũng không phải chỉ là những hoạt động đang thuộc sự quản lý hành chính của nhà nƣớc thông qua ngành văn hóa.
Hoạt động của ngành văn hóa là hoạt động sản xuất ra các giá trị tinh thần nhằm giáo dục con ngƣời có khát vọng hƣớng tới cái chân, cái thiện, cái mỹ và khả năng sáng tạo ra chân, thiện, mỹ trong đời sống. Với ý nghĩa đó, văn hóa bao gồm hoạt động về giáo dục, khoa học, văn học nghệ thuật, đạo đức, lối sống v. Trong bản thảo NHẬT KÝ TRONG TÙ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: "Vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ mục đích của cuộc sống, loài ngƣời mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phƣơng thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phƣơng thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài ngƣời đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn". Ở khái niệm trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên một số những sản phẩm do con ngƣời sáng tạo ra, trong đó có văn hóa vật thể (những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở…); có văn hóa phi vật thể (ngôn ngữ, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật). Chữ “giá trị” đƣợc ẩn dƣới câu “Vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ mục đích của cuộc sống…nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. Những sản phẩm do con 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngƣời phát minh ra mà Chủ tịch Hồ Chí Minh liệt kê nêu trên phải là những sản phẩm nhằm phục vụ cho con ngƣời, có nghĩa là chứa đựng những giá trị.
Nhƣ vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đƣa ra một khái niệm văn hóa theo nghĩa rộng. Trong Hội nghị liên Chính phủ về các chính sách văn hóa họp năm 1970 tại Venise, ông Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO đƣa ra khái niệm: "Đối với một số ngƣời, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tƣ duy và sáng tạo; đối với những ngƣời khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngƣỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động” [87, tr.19 - 22] “ Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo ( của các cá nhân và các cộng đồng) trong quá khứ và hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo đó đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu – những yếu tố xác định đặc thù riêng của mỗi dân tộc”.14] Đây là khái niệm đƣợc đƣa ra trong bối cảnh thế giới còn có sự phân biệt văn hóa dân tộc lớn, dân tộc nhỏ, văn hóa dân tộc này cao, dân tộc kia thấp, văn hóa dân tộc này văn minh, văn hóa dân tộc kia lạc hậu. Khái niệm nêu trên có ý nghĩa chính trị rất lớn về việc khẳng định mỗi dân tộc có bản sắc riêng.
Quan điểm này càng đƣợc khẳng định tại tại Hội nghị quốc tế về văn hóa ở Mêxicô để bắt đầu thập kỷ văn hoá UNESCO. Hội nghị này có hơn một nghìn đại biểu đại diện cho hơn một trăm quốc gia tham gia từ ngày 26/7 đến 6/8 năm 1982, ngƣời ta đã đƣa ra trên 200 định nghĩa, nhìn nhận văn hóa với một ý nghĩa rộng rãi hơn, coi văn hóa nhƣ một phức thể, tổng thể các đặc trƣng, diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức, tình cảm. khắc họa lên một cộng đồng gia đình, làng xóm, vùng miền, quốc gia, xã hội. Cuối cùng Hội nghị chấp nhận một định nghĩa nhƣ sau: “Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm ngƣời trong xã hội.
Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chƣơng, những lối sống, những quyền cơ bản của con ngƣời, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngƣỡng”.24] 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khái niệm trên vừa nói đến văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, vừa nói đến hệ giá trị và đặc biệt là nêu lên “những nét riêng biệt về văn hóa của một xã hội hay một nhóm ngƣời trong xã hội”. Nhƣ vậy, khái niệm trên cũng là khái niệm văn hóa theo nghĩa rộng, kèm theo đó là quan điểm công nhận mỗi dân tộc dù lớn hay nhỏ đều có bản sắc văn hóa riêng biệt. Với ý nghĩa đó, văn hóa có mặt trong bất cứ hoạt động nào của con ngƣời, dù đó là hoạt động sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần, hay trong quan hệ giao tiếp ứng xử xã hội, trong thái độ đối với thiên nhiên. Theo PGS,TSKH Trần Ngọc Thêm trong “Cơ sở văn hóa Việt Nam” đã đƣa ra một định nghĩa về văn hóa nhƣ sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tƣơng tác giữa con ngƣời với môi trƣờng tự nhiên và xã hội của mình.
13] Từ những định nghĩa đã nêu, xét thấy văn hóa có phạm vi nội hàm rất rộng, nó chỉ toàn bộ những hoạt động, sáng tạo của con ngƣời về vật chất, tinh thần và ứng xử. Đó là những hoạt động và sáng tạo có ích cho đời sống của con ngƣời, cho xã hội loài ngƣời và cho thế giới xung quanh. Theo phân loại của UNESCO, văn hóa có các thành tố: - Văn hóa vật thể: chỉ khía cạnh vật chất kỹ thuật của những sản phẩm do con ngƣời sáng tạo ra, nó mang dấu ấn của một cộng đồng dân tộc trong từng thời kỳ lịch sử nhất định. Các thể loại văn hóa vật thể: di vật, cổ vật, kiến trúc cổ (chùa, đình, lăng mộ, nhà truyền thống, cung điện…).
- Văn hóa phi vật thể: là những sáng tạo của con ngƣời nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt xã hội của con ngƣời nhƣ: tôn giáo, triết học, nghệ thuật… Các lĩnh vực: tín ngƣỡng tôn giáo, lễ hội (gồm phần lễ và phần hội), dân ca – nghệ thuật biểu diễn… 1. Văn hóa dân tộc Văn hóa dân tộc đƣợc hiểu và trình bày dƣới các quan niệm khác nhau: Quan niệm thứ nhất: đó là đồng nhất văn hóa dân tộc với văn hóa của dân tộc đó, trình bày lịch sử văn hóa dân tộc chỉ nhƣ là lịch sử văn minh của riêng một dân tộc. 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.