ĐẶT VẤN ĐỀ Theo Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ ( National Institutes of Health ), loãng xương là một rối loạn của hệ thống xương được đặc trưng bởi sự suy giảm sức bền của xương, dẫn tới làm tăng nguy cơ gãy xương [41]. Loãng xương đang là một vấn đề sức khỏe toàn cầu ở nhóm người lớn tuổi với sự liên quan lớn đến gánh nặng cá nhân và xã hội [59]. Loãng xương được coi là một vấn đề sức khỏe lớn hiện nay vì nó ảnh hưởng đến một tỷ lệ không nhỏ dân số trên 50 tuổi. Tỷ lệ loãng xương ở các nước trên thế giới vào khoảng 20-25% trong khi đó con số này ở Việt Nam là 30% ở nữ giới và 10% ở nam giới [56].
Trong số các biến chứng gãy xương do loãng xương (gãy cổ xương đùi, gãy cổ tay, xẹp đốt sống) thì xẹp đốt sống thường gặp nhất. Tuy nhiên tỷ lệ xẹp đốt sống do loãng xương không xác định được chính xác do chỉ có một phần tư trường hợp xẹp đốt sống có triệu chứng trên lâm sàng theo báo cáo năm 2001 của Lindsay và cs [68]. Tại Việt Nam, tỷ lệ xẹp đốt sống ở phụ nữ sau mãn kinh cũng tương tự như ở phụ nữ da trắng [55]. Lún, xẹp đốt sống đang ngày càng phổ biến do nhiều nguyên nhân gây nên: chấn thương cột sống, loãng xương, u máu thân đốt sống, đa u tủy xương… trong đó loãng xương là nguyên nhân phổ biến nhất [14].
Theo tác giả Suzuki và cs năm 2008, xẹp đốt sống do loãng xương gây ra sự đau đớn, tác động nặng nề tới hoạt động sinh hoạt hàng ngày cũng như chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Sau khi bị xẹp đốt sống, tình trạng sức khỏe của bệnh nhân bị suy giảm và tình trạng này kéo dài ít nhất 01 năm [90]. Hiện tại có nhiều phương pháp điều trị xẹp đốt sống do loãng xương, bao gồm điều trị nội khoa, ngoại khoa và điều trị can thiệp tối thiểu (tạo hình đốt sống qua da). Điều trị nội khoa bao gồm nằm bất động tại chỗ, dùng thuốc giảm đau, đeo nẹp.
Tuy nhiên nằm bất động lâu ngày sẽ khiến bệnh nhân có nguy cơ bị viêm phổi, huyết khối tĩnh mạch sâu dẫn tới nhồi máu phổi, teo cơ c 2 và mất xương nhiều hơn, do đó làm tăng nguy cơ gãy xương về sau theo các tác giả Bisochoff và Inoue [31], [58], bên cạnh đó, nhiều trường hợp tác dụng giảm đau của các phương pháp điều trị nội khoa và vật lý trị liệu không cao, bệnh nhân có thể tiến triển chuyển sang đau lưng mạn tính. Trong khi đó, tạo hình đốt sống qua da với hiệu quả giảm đau nhanh và ít biến chứng đang là phương pháp đang được lựa chọn để điều trị cho bệnh nhân xẹp đốt sống do loãng xương. Đây là phương pháp can thiệp tối thiểu sử dụng đường vào qua da, gây tê tại chỗ và có thể áp dụng được cho các bệnh nhân lớn tuổi [53], [60]. Khoa ngoại thần kinh bệnh viện Trung ương Thái Nguyên đã tiến hành bơm cement cho một số bệnh nhân bị xẹp đốt sống do loãng xương nhằm mục đích nâng cao kỹ thuật chẩn đoán, điều trị, chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân và đã thu được một số kết quả tốt.
Do đó, nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài: “Kết quả điều trị xẹp thân đốt sống trên bệnh nhân loãng xương bằng phương pháp bơm ciment sinh học qua da tại bệnh viện Trung ương Thái Nguyên ” nhằm 2 mục tiêu: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng ở những bệnh nhân xẹp đốt sống trên loãng xương tại bệnh viện Trung ương Thái Nguyên từ tháng 6/2017 đến tháng 5/2018 2. Đánh giá kết quả điều trị xẹp thân đốt sống của phương pháp bơm cement sinh học qua da tại bệnh viện Trung ương Thái Nguyên từ tháng 6/2017 đến tháng 5/2018. Lịch sử phương pháp bơm cement tạo hình thân đốt sống 1.
Sơ lược của phương pháp điều trị này trên thế giới Năm 1960, Sir John Charnley, một bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình người Anh, lần đầu tiên đã dùng vật liệu cement hoá học (acrylic cement) để cố định chỏm xương đùi nhân tạo vào thân xương. Sau đó, vào những năm 70, cement hoá học được dùng nhiều trong phẫu thuật để làm đầy các hốc xương trong khi mổ và làm cột sống giả [74]. Bơm cement hoá học vào thân đốt sống trong khi mổ được thực hiện lần đầu tiên tại Pháp năm 1984 bởi Pierre Galibert, một nhà phẫu thuật thần kinh [73]. Năm 1985 Hervé Deramond, một nhà điện quang thần kinh Pháp, cùng với Pierre Galibert, lần đầu tiên sử dụng kĩ thuật THĐSQD để bơm cement vào thân đốt sống C2 bị phá huỷ một phần do u máu thân đốt sống tiến triển, giúp giảm đau lâu dài [48].
Vào đầu thập niên 90, kĩ thuật THĐSQD đã được tiến hành bởi các nhà điện quang tại đại học Virginia, Mĩ để điều trị những trường hợp xẹp đốt sống do loãng xương [73]. Ở châu âu, THĐSQD được áp dụng nhiều hơn đối với những trường hợp xẹp đốt sống bệnh lí do di căn hoặc bệnh đa u tủy sống [40]. Sơ lược việc áp dụng phương pháp điều trị trên tại Việt Nam Từ tháng 8/2002 đến tháng 1/2008, Phạm Minh Thông và cs đã THĐSQD bằng bơm cement hóa học để điều trị 31 bệnh nhân: 12 trường hợp xẹp đốt sống do loãng xương, 10 trường hợp do u máu đốt sống, 3 trường hợp di căn đốt sống, với kết quả tốt là 66. Năm 2006, Phạm Mạnh Cường và cs đã tiến hành nghiên cứu áp dụng và bước đầu đánh giá hiệu quả của phương pháp tạo hình đốt sống qua da trong điều trị một số tổn thương đốt sống vùng lưng và thắt lưng [7], [8].
c 4 Năm 2008, Nguyễn Văn Thạch và cs khoa Phẫu thuật cột sống Bệnh viện Việt Đức đã thực hiện thành công kỹ thuật THĐSQD bằng bơm cement sinh học cho những bệnh nhân bị xẹp đốt sống do loãng xương và chấn thương cột sống [13], [22]. Tiếp sau đó, đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về phương pháp can thiệp trên và cho các kết quả rất khả quan như Phạm Mạnh Cường (2009), Nguyễn Văn Thạch (2009), Đào Mạnh Hùng (2010), Đào Văn Nhân (2012) , Nguyễn Văn Sơn (2013), Nguyễn Vũ (2014) và nhiều công trình nghiên cứu khác [8], [9],[12], [17], [20], [21], [24], [25]. Tổng quan bệnh loãng xương 1. Định nghĩa loãng xương Theo Tổ chức Y tế Thế giới, loãng xương được định nghĩa là một bệnh rối loạn chuyển hóa của xương trong đó mật độ khoáng của xương sụt giảm, cấu trúc vi thể của xương suy yếu, dẫn tới làm tăng nguy cơ gãy xương [41].
Loãng xương xảy ra khi tốc độ hủy xương diễn ra nhanh hơn tốc độ tái tạo xương, gây giảm mật độ xương hay mất xương (bone loss). Giảm mật độ xương thường xảy ra khi cơ thể già đi. Tuy nhiên loãng xương có thể gặp ở những người mà mật độ xương của họ không đạt được đỉnh (peak bone density) trong giai đoạn thanh thiếu niên. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 1994, loãng xương được xác định dựa trên chỉ số T-score.
T-score thể hiện sự khác biệt giữa mật độ xương đo được và mật độ xương tham chiếu (mật độ xương của người cùng giới, chủng tộc và lứa tuổi). Khi T-score ≤ -2,5 độ lệch chuẩn (SD) thì được coi là loãng xương [81]. Thực trạng bệnh loãng xương Loãng xương là một trong những gánh nặng về sức khỏe quan trọng và tăng nhanh ở châu Âu, nhưng hầu hết các bệnh nhân có nguy cơ xẹp đốt sống không được tiếp cận với điều trị đẫn đến một lỗ hổng lớn về vấn đề điều trị c 5 này.9 triệu trường hợp gãy, vỡ xương do loãng xương xảy ra hàng năm trên thế giới, và khoảng hơn 30% trong số này thuộc về châu Âu. Ước tính khoảng 3.5 triệu ca mỗi năm.
Một đánh giá về lâm sàng và gánh nặng kinh tế của gãy xương do loãng xương ở 27 quốc gia châu Âu năm 2010 chỉ ra rằng 2/3 trường hợp gãy xương liên quan xảy ra ở phụ nữ và tăng dần với tuổi. Các gãy xương hay gặp là xương đùi (18%), cẳng tay (16%), xương cột sống (15%) và các loại khác 51%, theo Kanis và cộng sự năm 2017 [62]. Cùng với sự già đi của dân số thế giới thì tỷ lệ mắc bệnh loãng xương cũng như tỷ lệ gãy xương do loãng xương cũng sẽ tăng lên theo độ tuổi [1], [15]. Theo tác giả Kanis, loãng xương tác động lên tất cả các xương của cơ thể tuy nhiên gãy xương thường xảy ra ở vị trí cổ xương đùi, cột sống và xương cổ tay.
Hàng năm có khoảng 9 triệu người bị gãy xương do loãng xương. Tại các nước phát triển, người ta ước tính nguy cơ trọn đời (lifetime risk) bị gãy cổ xương đùi, xẹp đốt sống và gãy cổ tay vào khoảng 30-40%. Con số này gần như tương đương với nguy cơ của các bệnh mạch vành [95]. Theo báo cáo của Fischer và cs năm 2017, tại Hoa Kỳ, có hơn 53 triệu người bị loãng xương hay có nguy cơ mắc loãng xương do giảm khối lượng xương phụ thuộc vào tuổi và mật độ xương.
Cứ mỗi 10 năm, nguy cơ gãy xương do loãng xương lại tăng lên gấp đôi [46]. Theo Maghbooli và cs năm 2017, kinh tế phải chi trả cho điều trị gãy vỡ xương do loãng xương được ước tính sẽ tăng gấp đôi vào năm 2025 so với hiện tại và sẽ trở thành gánh nặng và là một vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng [70]. Xẹp đốt sống do loãng xương và trên bệnh nhân có bệnh loãng xương 1. Khái niệm xẹp đốt sống Xẹp đốt sống được định nghĩa khi có sự thay đổi hình dạng của thân đốt sống (vertebral deformity).
Tuy nhiên các thân đốt sống tạo nên cột sống có hình dạng biến đổi theo từng đoạn và giữa các cá thể khác nhau cũng c 6 không giống nhau. Trước đây người ta phân loại xẹp đốt sống dựa vào sự thay đổi hình dạng thân đốt sống trên phim Xquang, bao gồm đốt sống xẹp hình chêm (wedge deformity), xẹp hình xương cá (biconcavity deformity) và xẹp phẳng (compression/crush deformity). Cách phân loại này không mang tính khách quan. Do đó người ta đưa ra phương pháp định lượng và bán định lượng để đo đạc chiều cao của thân đốt sống của Genant và cs [50].
Theo phương pháp này xẹp đốt sống chia thành 4 độ từ 0 đến 3: - Độ 0: không thấy giảm chiều cao thân đốt sống. - Độ 1: chiều cao tường trước, tường sau và đoạn giữa thân đốt sống giảm 20-25% so với đốt sống liền kề. - Độ 2: chiều cao thân đốt sống giảm 25-40%. - Độ 3: chiều cao thân đốt sống giảm >40%.