CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐÈ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về kế toán trách nhiệm. Khái niệm về kế toán trách nhiệm. Mặc dù kế toán trách nhiệm đã được nghiên cứu từ lâu nhưng cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất.
Mỗi nhà nghiên cứu có định nghĩa và quan điểm riêng về kế toán trích nhiệm. Louderback II, Jay S Holmen, Geraldine E.Dominiak nhắn mạnh đến tính kiểm soát của kế toán trách nhiệm: “Kế todn trách nhiệm. 1à sự thụ thập và bảo cáo thông tin được dùng dé kiém soát hoạt động và đánh giá quá trình thực hiện. Một hệ thẳng kể toán trách nhiệm là một hệt thống thông tin tài chính trong hệ thẳng kiểm soát quản trị nỗi chung” (11, e412} ‘Theo Hemy R.Caldwell lại nhắn mạnh đến hệ thống thông tin báo cáo của kế toán trách nhiệm: “Kế ton rách nhiệm là hệ thẳng bảo cáo thông tin về các Irung tâm khác nhau trong ‘mot t6 chức.
Nó gắn chỉ phú, doanh thu hoặc lợi nhuận với các cá nhân chịu trách nhiện chính trong việc ra quy định. KỂ toán trách nhiệm là sự úy quyên và ra quyết định của các nhà quân tị cắp co, là kết quả của các nhà quản trị được đẳnh giá bằng cách xem xét ho đã quản lý những công việc trong tim kiém soái của mình như thế nào” [10, tr201] “Tại Việt Nam, kế toán trách nhiệm bắt đầu được đưa vào nghiên cứu, PGS.TS Đào Văn Tài_ Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh cho rằng: * oán trách nhiệm là một phương pháp ké toán thu thập và bảo cáo các thông tin dự toán vàthực tế é các "đầu vio” v i ra” của các trung tâm trách mhigm” (5, 88) “Qua các khái niệm trên cho thấy các nhà khoa học đã đưa ra những quan điểm khác nhau về kế toán trách nhiệm, thể nhưng hầu hết các ý kiến đều tập trung làm sảng tỏ những nội dung của kế toán rách nhiệm và có thể bổ sung cho nhau. Như vậy, có thể hiểu khái niệm về kế toán trách nhiệm: Kế toán trách nhiệm là một hệ thống thừa nhận mỗi bộ phận trong một tổ chức có quyền chỉ đạo và chịu trách nhiệm về những nghiệp vụ riêng biệt thuộc phạm vị quản lý của mình. Theo đó, mỗi bộ phận sẽ được đánh giá kết quả hoạt động thông qua các bảo cáo bộ phận, nhà quản trị cắp cao sẽ sử dụng thông tin của kễ toán trách nhiệm dé đánh giá các nhà quản tị các cắp và khuyến khích họ trong công vide dé đem lại hiệu quả cao nhất cho đơn vị 1.
Đặc điễm của kế toán trách nhiệm 1. Kế toán trách nhiệm trong mỗi quan hệ với kế toán quản trị Kế toán trách nhiệm chỉ ra một mô hình quản lý mà trong đó NỌT bộ phận có sự độc lập tương đối trong việc đi "hành công việc của mình và phải đảm bảo hoàn thành mọi công việc thuộc trách nhiệm của bộ phân minh quản lý. Hệ thống kế toán trách nhiệm còn bảo đảm phối hợp hoạt động của tắt cả các bộ phận để hoàn thành mục tiêu chung của tổ chức tốt nhất KẾ toán trách nhiệm không chỉ đảm bảo cung cấp thông tn đầy đủ, rõ ràng về tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị mà còn xác định ở đâu, đối tượng nào chịu trách nhiệm, bộ phận nào có quyển kiếm soát đối với hoạt động xây ra. KẾ toán trách nhiệm còn là cơ sở để thực hiện quá trình kiểm soát của KTOT vi doanh thu và chỉ phí được tập hợp và trình bảy theo từng trung tâm.
trách nhiệm, qua đó NQT dễ dàng nhận biết nguyên nhân gây nên những hậu quả bất lợi về tăng chỉ phí và giảm doanh thu so với dự toán là thuộc trách. nhiệm của bộ phận nào. “Tóm lại, kế toán trách nhiệm là một bộ phận của KTQT, về cơ bản cũng có đầy đủ nội dung của KTQT, thực hiện đầy đủ chức năng của KTQT, thể hiện trách nhiệm của NỌT ở các bộ phận đối với mục tiêu cuỗi cùng của tổ chức. Trách nhiệm đồ được thể hiện qua sơ đồ sau: “Chức năng quản trị Quá trình kế toán =¬ TC Xéec dinh muc tiéu «+ Hinh thành các chỉ tiểu kmh tế + + ay dung ké hoach «+ _Lép cic bing du todn + Tổ chức thực hiển: «=————” _ Thu thép két quai thyee hign + + Kigm tra đẳnh giá.
«———x _ Lấp các báo cáo thực hiện Lt Hình 1.1: Mỗi quan hệ giữa chức năng quản trị và quá trình kế toán Nhu vay, sau khi DN đã xác định được c mục tiêu chung, chúng sẽ được chính thức hóa thành các chỉ tiêu kinh tế. Các chỉ tiêu này sẽ trở thành. căn cứ để lập kế hoạch chính thức, trên cơ sở đó kế toán soạn thảo và triển khai bảng dự toán chung và dự toán chỉ tết làm căn cứ cho việ tổ chức, theo dõi và đánh giá thực hiện. Kế toán tách nhiệm là một nhân tổ trong hệ thắng kiém soất quân trị HỆ thống kiểm soát quản tị DN gồm 2 yếu tổ: Một là quá trình lập dự toán với mục đích thiết lập các chỉ iêu nhằm, ảnh giá quá tình thự hiện Hai là xác định các trung tâm trách nhiệm, cân nhắc giữa chỉ phí và lợi ích, đưa ra động lực để đạt được mục tiêu và những nỗ lực quản lý.
Nói rõi hơn, trung tâm trách nhiệm sẽ chịu trách nhiệm kết quả tải chính và tác động. hiệu quả của từng cá nhân trong tổ chức Một trung tâm trách nhiệm là một hệ thống các hoạt động được phân cho một NQT, một nhóm quản lý và các nhân viên khác. Ví dụ, một hệ thống, máy móc và các công doan gia công có thể là một trung tâm trách nhiệm cho. một tổ chức.
Toàn bộ phân xưởng có thể là một trung tâm trách nhiệm dưới quyển chỉ đạo quản đốc phân xưởng. Cuối cùng, toàn bộ DN là trung tâm dưới sự chỉ đạo giám đốc. Ap dụng hệ thống kế toán trách nhiệm để nhận rõ bộ phân nào trong tổ chức có trách nhiệm với từng mục tiêu, phát triển các đo. lường việc thực hiện và các chỉ tiêu cần đạt được, và thiết kế các báo cáo về các do lường này ở từng bộ phận trong tỗ chức hoặc từng trung tâm trách nhiệm.
Tiên trình thực hiện của một trung tâm trách nhiệm được thê hiện như. sau Thiết lập các chỉ tiêu 4 eng kr gu he hen Sơ sánh kết quả thực hiện với myc tien va bio cho + Ph chest bit ica m ảnh hướng khỉ có sự sai biệt đẳng kể giữu thực t và dự toán Hình L2: Tiền trình của một trung tâm trách nhiệm Như vây, kế oán trách nhiệm thực hiện quá trình kiểm sot cia KTOT vì đoanh thu và chỉ phi được tập hợp và trình bày theo từng trung tâm trách nhiệm, qua đỗ NQT dễ dàng nhận biết nguyên nhân gây nên những hậu quả bit loi vé tăng chỉ phí và giảm doanh thư so với dư toán là thuộc trích nhiệm, của bộ phận nào. Tĩnh hai mặt của kếtoán trách nhiệm. Hệ thống kế toán rách nhiệm được thiết lập nhằm khuyến khích các "NT hướng đến mục tiêu chung trong tổ chức phân quyền.
Hệ thống này gồm hai mặt đó là trách nhiệm và thông tin. Mặt trách nhiệm là việc quy trách nhiệm cho NQT bộ phận về các sự kiện kinh tế tải chính xảy ra tại bộ phận do ho quan I Cu thé, NQT bộ phân có nhiệm vụ báo cáo lên cấp quản lý cao hơn những thông tin về hoạt động mà mình đảm nhận và giải rình từng sự việc về kết quả tài chính mà mình được quyển kiểm soát. Còn mặt thông tin la sự tập hợp, báo cáo, đánh giá các thông tin mang tính nội bộ về hoạt động SXKD của DN từ cấp quản lý dưới lên cấp quản lý cao hơn. Khi kế toán trách nhiệm quá nhắn mạnh đến mặt đánh giá trách nhiệm sẽ ảnh hưởng đến thái độ của người quản lý theo chiễu hướng tiêu cực, thay vi lim ra nguyên nhân và khắc phục sai pham 1 lai tìm cách che đây, đối phó, hoài nghỉ về hệ thống kiểm soát cũng như đánh giá của tổ chức va tim cách phá vỡ hệ thống này.
Như vậy, hệ thống kế toán trách nhiệm không hoàn thành mục tiêu đề ra Khi kế toán trích nhiệm chú trọng đến mật thông tin sẽ ảnh hưởng đến thái độ của người quản lý theo chiều hướng tích cực, bọ sẽ giải thích nguyên nhân dẫn đến thành quả của bộ phân và tìm ra các biện pháp khắc phục các "mặt tiêu cực để thành quả của bộ phận được cải thiện hơn. `Vi vây, cần phải thấy rằng trọng tâm của hệ thống kế toán trách nhiệm là thông ti. Hệ thống này chỉ ra ai là người có trách nhiệm giải thích từng sự kiện hoặc kết quả ải chính đặc biệt. Hệ thống kế toán trách nhiệm phải cung cấp thông tin cho người có trích nhiệm và người quản lý cấp cao hơn biết được nguyên nhân dẫn đến thành quả của các bộ phận để họ hiểu được mục tiêu chung của tổ chức nhằm thúc đẩy họ năng cao hiệu qua hoạt động.
Khi được sử dụng đúng, hệ thống kế toán trách nhiệm sẽ không quá nhắn mạnh đến việc quy trách nhiệm, một yếu tổ góp phẫn vào hiệu quả thông tin của hệ thống 1. Mục đích của kế toán trách nhiệm Hệ thống kế toán trách nhiệm được thiết lập để ghi nhận, đo lường kết cquả hoạt động của từng bộ phận trong tổ chức, trên cơ sở đó lập c¿ báo cáo thực hiện nhằm cung cắp thông tin cho NỌT trong việc kiểm soát hoạt động, và chỉ phí của họ. Qua đó, NQT có thể đánh giá trách nhiệm quản lý và kết cquả hoạt đông của từng bộ phận trong việc thực hiện mục tiêu chung của toàn. Việc đánh giá iydựa trên hai tiêu chí: tính hiệu quả và tính hiệu năng.
“Tính hiệu qua (effectiveness): e6 được khi đạt được mục tiêu để ra mà chưa kể đến việc sử dụng nguồn lực như thế nào. Hiệu quả được tính toán. bằng việc so sánh giữa kết quả đạt được với mục tiêu để ra cho trung tâm. trách nhiệm đó.
Nói cách khác, đánh giá hiệu quả chính là đo lường mức độ "hoàn thành mục tiêu của trung tâm trách nhiệm [1], |8]. Tính hiệu năng (efiicieney): là tỷ lệ giữa đầu ra so với đầu vào của trung tâm trách nhiệm, hay có thể nói hiệu năng là tỷ lệ giữa kết quả thực tế đạt được so với nguồn lực thực tẾ trung tâm trách nhiệm đã sử dụng để tạo ra kết quả đồ [1], [8] "Như vậy, mục.