Chương 1. Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về kế toán quan tri chi phí doanh nghiệp Chương 2. Phương pháp nghiên cứu Chương 3. Thực trạng kế toán quản trị chi phí tại Công ty TNHH MTV Thương mại Habeco Chương 4.
Dé xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện kế toán quan trị chi phí tại Công ty TNHH MTV Thương mại Habeco CHUONG 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE KE TOÁN QUAN TRI CHI PHI TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tong quan nghiên cứu đề tài Chi phí là một trong các nội dung nha quản tri cần theo dõi nhằm hoạch định và kiểm soát chi phí, góp phan gia tăng giá trị cũng như nâng cao khả năng cạnh tranh cho DN. Thông tin về chi phí sản xuất kinh doanh trong DN, có thé là thông tin kế hoạch/thực tế hay phân tích biến động chi phí/dự báo chi phí,. Tất cả các thông tin chỉ phí trong DN được các cấp quản trị phối hợp thu thập và phân tích đầy đủ kịp thời cho NQT các cấp, trong quá trình điều hành và ra quyết định.
QTCP được các NQT quan tâm tô chức thu thập thông qua hệ thống KTQTCP trong các DN. Cac DN tổ chức thu thập thông tin kế toán chi phí tốt làm cơ sở để xác định giá bán, phân tích điểm hòa vốn, lập kế hoạch lợi nhuận, dự báo chỉ phí, kiểm soát chỉ phí, đưa ra các quyết định thích hợp trong các trường hợp cụ thé,. Dé thực hiện các van đề QTCP, KTQTCP cần thiết tổ chức phân loại chi phí theo các mục tiêu quản trị như: Phân loại chi phí theo chức năng, theo cách ứng xử chi phí, theo mức độ kiểm soát chi phí. Chính vi thế, có rất nhiều các nghiên cứu về KTQTCP theo các hướng khác nhau 1.
Tổng quan nghiên cứu ở nước ngoài Cac tac giả Horngen, Foster, Datar, Rajan, Ittner (2008) trong nghiên cứu ‘‘Cost Accounting Managerial Emphasis” đã đề cập đến việc lập dự toán tong quát trong doanh nghiệp. Xuất phát từ chiến lược chung của doanh nghiệp KTQT sẽ lập dự toán tổng quát, sau đó từ dự toán tông quát sẽ lập các dự toán cụ thé, bao gồm: (1) Dự toán hoạt động sản xuất bao gồm: dự toán sản xuất, dự toán doanh thu, dự toán mua vào, dự toán giá vốn, dự toán chi phí hoạt động, dự toán báo cáo kết quả kinh doanh; (2) Dự toán vốn; (3) Dự toán tài chính bao gồm: dự toán dòng tiền, dự toán bảng cân đối, dự toán báo cáo lưu chuyền tiền tệ. Nghiên cứu cũng chỉ rõ dự toán có thê lập chung cho các hoạt động hoặc dự toán riêng cho các bộ phận tùy thuộc vào nha quản tri doanh nghiệp. Bên cạnh việc xây dựng dự toán linh hoạt trong các doanh nghiệp sản xuất, Horngen va các cộng sự còn đề cập đến dự toán linh hoạt và vai trò của dự toán linh hoạt trong các doanh nghiệp dịch vụ.
Tac giả Marjanovic, T. Ljutic (2013) với nghiên cứu ““Validity of information base on (CPV) analysis for the needs of short - term business decision making’’ đã đề cập đến vai trò của việc phân tích mối quan hệ giữa chi phí - khối lượng - lợi nhuận và phân tích điểm hòa vốn. Đây là những công cụ quan trọng được sử dụng dé đưa ra những quyết định ngắn hạn. Nhóm tác giả cho rằng việc phân tích mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận dựa trên ước tính kế toán khi xem xét chi phí ngắn hạn theo hoạt động là chi phí biến đổi.
Trong một giới han cụ thé thì chi phí thu nhập và khối lượng gần như có quan hệ tuyến tính và chi phí thì được chia thành chi phí cố định và chi phí biến đổi. Việc đưa ra giả thiết về mối quan hệ tuyến tinh của chi phí trong ngăn hạn mang lại nhiều thông tin hữu ích cho nhà quản trị: xác định nhanh chóng tổng chi phi ở các cấp độ hoạt động khác nhau, biến phí đơn vị là băng nhau khi mức độ hoạt động là khác nhau. Bên cạnh phân tích những thông tin hữu ích, tác giả cũng đưa ra những điểm hạn chế khi phân tích dựa trên chi phí biến đôi và những hạn chế khi sử dụng thông tin từ việc phân tích mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận. Tuy nhiên nghiên cứu cũng mới chỉ tiếp cận về mặt lý thuyết và nghiên cứu chung, chưa ứng dụng được vào phân tích ở một lĩnh vực hay một loại hình doanh nghiệp cụ thé nào.
Nghiên cứu của tác giả Admad, K. (2014) với đề tài “The adoption of management accounting practices in malaysian small and medium-sized enterprises” da cung cap bang chứng thực nghiệm về việc vận dụng một loạt các hoạt động KTQTCP trong các đơn vị HCSN của Malaysia. Dữ liệu được thu thập từ một cuộc khảo sát qua đường bưu điện bằng việc giữ và thu thập bảng hỏi của 160 nhà quản lý và kế toán viên được khảo sát phục vụ cho nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hệ thống các phương pháp KTQTCP (MAPs) truyền thống như dự toán ngân sách, chị phí truyền thống và các biện pháp hiệu quả tài chính được các đơn vị HCSN nước nay sử dụng rộng rãi.
Kết quả cho thấy, một số lượng đáng kê các đơn vị HCSN đã vận dụng một hoặc nhiều biện pháp cả tài chính và phi tài chính nhưng sự phụ thuộc vào các biện pháp tài chính lớn hơn so với các biện pháp phi tài chính. Tổng quan nghiên cứu trong nước Tại Việt Nam, một số doanh nghiệp đã bước đầu vận dụng và xây dựng một bộ máy kê toán quản tri riêng biệt và cũng đã có rat nhiêu nghiên cứu vê vân dé này. Điền hình là công trình nghiên cứu của Pham Văn Dược (1997) với “Phương hướng xây dựng nội dung và tô chức vận dụng kế toán quản trị vào các doanh nghiệp Việt Nam”, tác giả đã trình bày phương hướng và giải pháp xây dựng hệ thống kế toán quan tri trong các doanh nghiệp Việt Nam, tuy nhiên nghiên cứu nay còn mang tính chất chung cho tat ca các loại hình doanh nghiệp. Trong thời gian gần đây, việc nghiên cứu về kế toán quản trị chỉ phí trong các doanh nghiệp đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu.
Điển hình là các công trình nghiên cứu: “Tổ chức kế toán quản trị chi phí và kết quả kinh doanh ở các doanh nghiệp kinh doanh du lịch” của tác giả Phạm Thị Kim Văn (2002), “Xây dựng mô hình kế toán quan trị chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất được phẩm Việt Nam” của tác giả Phạm Thi Thuy (2007), “Kế toán quản trị chi phi và đánh giá trách nhiệm trung tâm chỉ phí tại bưu điện thành phố Đà Nẵng” của tác giả Phạm Thị Thúy Hăng (2007), “Nghiên cứu kế toán quản trị chi phi tại các Công ty cà phê Nhà nước trên địa bàn tỉnh Dak Lak” của tác giả Nguyễn Thanh Trúc (2007), “Kế toán quan tri chi phí trong các doanh nghiệp Dệt ở Đà Nẵng, thực trạng và giải pháp hoàn thiện” của tác giả Đoàn Thị Lành (2008), “Tổ chức báo cáo kế toán quản trị trong doanh nghiệp sản xuất” của tác giả Nguyễn Thị Tố Vy (2010). Tất cả các nghiên cứu trên đã khái quát được các vấn đề lý luận chung về kế toán quản trị chỉ phí, thay được tầm quan trong của kế toán quản tri chi phí trong việc cung cấp thông tin về chi phí cho quản trị doanh nghiệp. Mặc dù vậy, các công trình nghiên cứu về kế toán quản trị chi phí đã công bố đều chưa nghiên cứu chuyên sâu về kế toán quản trị chi phí áp dụng cho từng Công ty cụ thé trong từng ngành, phù hợp với đặc điểm kinh doanh của từng Công ty. Vào năm 2010, năm 2011 các tác giả đã đi vào nghiên cứu kế toán quản trị chỉ phí áp dụng cho từng Công ty.
Tác giả Trần Thị Kim Loan (2010) nghiên cứu “Kế toán quản trị chỉ phí tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên xổ số kiến thiết và dịch vụ in Đà Nẵng”, tác giả Đinh Tuyết Diệu (2011) nghiên cứu “Kế toán quản trị chi phi sản xuất tại Công ty cô phần thực phẩm xuất nhập khâu Lam Sơn”. Nhìn chung các đề tài này đã góp phần rất lớn cho Công ty trong việc xây dựng và vận hành một hệ thống kế toán quản trị chi phí để cung cấp các thông tin phủ hợp, tin cậy, kịp thời cho các nhà quản trị để ra các quyết định tối ưu. Thế nhưng các đề tài này chi mới đi sâu nghiên cứu tình hình kế toán quản tri chi phí nói chung, kế toán quan trị chi phí sản xuất nói riêng trong từng Công ty thuộc ngành in, ngành chế biến thủy sản. Trong lĩnh vực kinh doanh sản xuất sản phẩm hữu hình như sản phẩm bia rượu, tác giả Ngô Thị Hường (2010) nghiên cứu về “Hoàn thiện công tác kế toán quan trị chi phí tại công ty cổ phan bia Phú Minh” tác giả đã trình bày về công tác kế toán quản trị chi phi tại công ty.
Công tác lập dự toán trong đơn vị này được thực hiện theo sản lượng sản xuất ước tính do phòng kế hoạch của đơn vị đề xuất, vì vậy các dự toán chi phi sản xuất tại công ty cô phần bia Phú Minh được lập dựa trên sản lượng bia ước tính sản xuất. Từ nghiên cứu này, tác giả đã xây dựng các đề xuất hoàn thiện kế toán quan trị chi phí bao gồm: xây dựng định mức nguyên vật liệu theo sản lượng sản xuất, lập dự toán linh hoạt theo sản lượng sản xuất và t6 chức kế toán mô hình kế toán quản trị theo mô hình hỗn hợp 1. Khoảng tréng nghiên cứu Trên cơ sở tình hình nghiên cứu liên quan đến KTQTCP và các công trình liên quan đến các doanh nghiệp thương mại. Các công trình nghiên cứu thường tập trung vào nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng hệ thống KTQT và đề xuất một số giải pháp dé hoàn thiện kế toán quản trị nói chung và KTQTCP nói riêng trong các loại hình doanh nghiệp khác nhau.
Những công trình nghiên cứu KTQTCP trong các doanh nghiệp thương mại cũng đã làm rõ được cơ sở lý luận về quản trị chi phí, thực trạng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí cho từng doanh nghiệp nghiên cứu. Tuy nhiên như đã nói các giải pháp chỉ phù hợp với doanh nghiệp mà tác giả nghiên cứu mà không thể áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp thương mại.