Luận Văn Thạc Sĩ Kế Toán: Kiểm Soát Chi Ngân Sách Xã Tại Kho Bạc Nhà Nước Tỉnh Quảng Bình (2020)

Luận văn thạc sĩ phân tích kiểm soát chi ngân sách xã tại kho bạc nhà nước tỉnh Quảng Bình, cung cấp giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài chính.

Trường đại học

Trường Đại Học Kinh Tế

Chuyên ngành

Kế Toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn
108
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khám phá luận văn kiểm soát chi thường xuyên ngân sách xã Quảng Bình

Luận văn thạc sĩ kế toán về kiểm soát chi thường xuyên ngân sách xã tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Quảng Bình là một công trình nghiên cứu chuyên sâu, có giá trị lý luận và thực tiễn cao. Nghiên cứu này tập trung vào việc hệ thống hóa cơ sở lý luận về kiểm soát chi, phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách cấp xã. Trong bối cảnh cải cách hành chính và yêu cầu thực hành tiết kiệm chống lãng phí, việc siết chặt kỷ luật tài chính tại cấp cơ sở trở nên cấp thiết. Luận văn đã chỉ ra rằng, ngân sách xã vừa là một cấp ngân sách, vừa là một đơn vị dự toán, do đó công tác quản lý tài chính rất đa dạng và phức tạp. Việc kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua hệ thống Kho bạc Nhà nước (KBNN) đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo các khoản chi được thực hiện đúng mục đích, đúng chế độ và hiệu quả. Luận văn không chỉ làm rõ vai trò của KBNN mà còn phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động này, từ cơ chế chính sách, chất lượng dự toán ngân sách xã, đến năng lực của đội ngũ cán bộ. Nghiên cứu này là tài liệu tham khảo quan trọng cho các nhà quản lý, cán bộ làm công tác tài chính công và sinh viên chuyên ngành kế toán công, cung cấp một cái nhìn toàn diện về một trong những nghiệp vụ trọng tâm của ngành tài chính. Việc áp dụng các kết quả nghiên cứu sẽ góp phần hoàn thiện quy trình kiểm soát chi tại kho bạc, đảm bảo an ninh tài chính quốc gia từ cấp cơ sở.

1.1. Tính cấp thiết của việc quản lý chi thường xuyên ngân sách xã

Chi thường xuyên chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi ngân sách nhà nước và có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Tại cấp xã, các khoản chi này đảm bảo hoạt động của bộ máy chính quyền, duy trì các dịch vụ công thiết yếu và thực hiện chính sách an sinh xã hội. Tuy nhiên, công tác quản lý chi thường xuyên ở cấp xã đang đối mặt với nhiều thách thức. Chất lượng lập dự toán thấp, chưa sát thực tế dẫn đến phải điều chỉnh thường xuyên. Việc chấp hành dự toán chưa nghiêm, tiềm ẩn nguy cơ lãng phí và sai phạm trong chi tiêu công. Do đó, việc nghiên cứu để hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách xã, như trong luận văn của tác giả Lưu Thị Hoàng An, là vô cùng cấp thiết, phù hợp với chủ trương cải cách tài chính công của Nhà nước.

1.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn thạc sĩ kế toán

Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là nghiệp vụ kiểm soát chi thường xuyên ngân sách xã của KBNN, dựa trên các quy định của Luật Ngân sách Nhà nước và các văn bản hướng dẫn. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong không gian tại KBNN Quảng Bình và các kho bạc nhà nước cấp huyện trực thuộc. Dữ liệu được thu thập và phân tích trong giai đoạn 2014-2018, một giai đoạn có nhiều thay đổi quan trọng với việc ban hành Luật NSNN 2015. Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa tổng hợp, phân tích, so sánh và khảo sát thực tế, đảm bảo tính khoa học và khách quan cho các kết quả và đề xuất được đưa ra.

II. Những thách thức trong kiểm soát chi ngân sách xã tại Quảng Bình

Thực trạng kiểm soát chi thường xuyên ngân sách xã tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Quảng Bình cho thấy bên cạnh những kết quả tích cực, vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế và thách thức. Một trong những vấn đề nổi cộm được luận văn chỉ ra là chất lượng công tác lập dự toán ngân sách xã tại nhiều đơn vị còn thấp, không sát với thực tế, dẫn đến việc phải điều chỉnh, bổ sung liên tục trong năm. Điều này gây khó khăn cho KBNN trong việc kiểm soát và điều hành ngân quỹ. Bên cạnh đó, việc chấp hành kỷ luật tài chính của một số đơn vị sử dụng ngân sách chưa cao, vẫn còn tình trạng chi sai chế độ, tiêu chuẩn, định mức. Các sai phạm trong chi tiêu công không chỉ gây thất thoát ngân sách mà còn làm giảm hiệu lực quản lý nhà nước. Luận văn cũng đề cập đến sự phối hợp giữa KBNN và các cơ quan tài chính, thuế, UBND cấp xã đôi khi chưa đồng bộ, ảnh hưởng đến hiệu quả kiểm soát chi. Hạn chế về năng lực của một bộ phận cán bộ kế toán xã và cả cán bộ KBNN cũng là một rào cản. Việc chưa ứng dụng triệt để công nghệ thông tin trong toàn bộ quy trình cũng làm giảm tốc độ xử lý và tăng rủi ro sai sót. Giải quyết những thách thức này đòi hỏi các giải pháp đồng bộ và quyết liệt.

2.1. Bất cập trong chất lượng dự toán và quyết toán ngân sách xã

Chất lượng dự toán là yếu tố nền tảng cho công tác kiểm soát chi hiệu quả. Tuy nhiên, nghiên cứu tại Quảng Bình cho thấy nhiều dự toán ngân sách xã được lập một cách hình thức, chưa dựa trên cơ sở phân tích nhu cầu thực tế và định mức chi tiêu. Tình trạng dự toán không sát thực tế dẫn đến việc chi vượt dự toán hoặc không sử dụng hết kinh phí, gây lãng phí nguồn lực. Công tác quyết toán ngân sách xã cũng còn hạn chế, báo cáo đôi khi chậm trễ, số liệu thiếu chính xác, gây khó khăn cho việc tổng hợp và đánh giá của cơ quan cấp trên. Đây là một điểm yếu cần được khắc phục để nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình.

2.2. Phân tích các sai phạm phổ biến trong chi tiêu công ở cấp xã

Qua phân tích số liệu từ chối thanh toán và kết quả thanh tra tài chính, luận văn đã chỉ ra một số sai phạm phổ biến. Các sai phạm này bao gồm: chi không đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức (ví dụ: chi tiếp khách, hội nghị vượt quy định); hồ sơ, chứng từ thanh toán không đầy đủ, không hợp lệ; chi không có trong dự toán được duyệt. Một số trường hợp còn hợp thức hóa chứng từ để chi cho các mục đích không được phép. Những sai phạm trong chi tiêu công này phản ánh sự yếu kém trong quản lý nội bộ của đơn vị sử dụng ngân sách và cả những kẽ hở trong quy trình kiểm soát chi tại kho bạc.

III. Phương pháp kiểm soát chi ngân sách xã theo Luật NSNN 2015

Để nâng cao hiệu quả kiểm soát chi, luận văn đã hệ thống hóa quy trình và phương pháp kiểm soát dựa trên tinh thần của Luật Ngân sách Nhà nước 2015 và các văn bản hướng dẫn. Nguyên tắc cốt lõi là KBNN thực hiện kiểm soát trước, trong và sau quá trình thanh toán. Mọi khoản chi phải đảm bảo có trong dự toán được giao, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức và đã được thủ trưởng đơn vị quyết định chi. Quy trình này đòi hỏi sự minh bạch và chặt chẽ trong từng khâu. Từ khi đơn vị gửi hồ sơ cam kết chi, KBNN sẽ kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của chứng từ. Cán bộ kiểm soát chi đối chiếu với dự toán và các quy định hiện hành trước khi thực hiện thanh toán. Đặc biệt, luận văn nhấn mạnh vai trò của kho bạc nhà nước không chỉ là người "giữ túi tiền" mà còn là người hướng dẫn, tư vấn cho các đơn vị sử dụng ngân sách thực hiện đúng quy định của pháp luật. Việc áp dụng chế độ kế toán hành chính sự nghiệp mới và các ứng dụng công nghệ như TABMIS, Dịch vụ công trực tuyến đã góp phần hiện đại hóa và tự động hóa quy trình, giảm thiểu sai sót và rút ngắn thời gian xử lý, là một phần quan trọng trong việc hoàn thiện kiểm soát chi thường xuyên ngân sách xã.

3.1. Nguyên tắc cốt lõi trong quy trình kiểm soát chi tại kho bạc

Quy trình kiểm soát chi tại KBNN tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau: (1) Mọi khoản chi phải được kiểm tra, kiểm soát trước khi thanh toán. (2) Chi phải nằm trong dự toán đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. (3) Chi phải đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do nhà nước ban hành. (4) Hồ sơ, chứng từ phải đầy đủ và hợp lệ. (5) Ưu tiên thanh toán trực tiếp cho nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ để giảm thiểu rủi ro tiền mặt. Những nguyên tắc này đảm bảo rằng tiền của ngân sách được sử dụng một cách minh bạch, hiệu quả và tuân thủ Luật Ngân sách Nhà nước.

3.2. Nội dung kiểm soát chi tiết theo từng nhóm mục chi tiêu

KBNN thực hiện kiểm soát chi tiết theo 4 nhóm mục chính. Nhóm "Chi thanh toán cá nhân" được kiểm soát dựa trên bảng lương, hệ số và chỉ tiêu biên chế. Nhóm "Chi nghiệp vụ chuyên môn" (công tác phí, hội nghị) được kiểm soát dựa trên định mức quy định. Nhóm "Chi mua sắm, sửa chữa" được kiểm soát chặt chẽ về quy trình đấu thầu, hợp đồng và biên bản nghiệm thu. Nhóm "Chi khác" được kiểm soát dựa trên các quyết định phê duyệt của cấp có thẩm quyền. Việc phân loại và kiểm soát theo từng nhóm mục giúp cán bộ KBNN áp dụng đúng các quy định pháp lý tương ứng, đảm bảo tính chính xác và hiệu quả cho công tác quản lý chi thường xuyên.

IV. Bí quyết hoàn thiện công tác kiểm soát chi ngân sách xã hiệu quả

Từ việc phân tích thực trạng, luận văn đã đề xuất một hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách xã tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Quảng Bình. Giải pháp trọng tâm đầu tiên là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Cần thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ và đạo đức công vụ cho đội ngũ cán bộ kiểm soát chi của KBNN cũng như cán bộ kế toán tại các xã. Giải pháp thứ hai là hoàn thiện quy trình kiểm soát chi tại kho bạc theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính nhưng vẫn đảm bảo sự chặt chẽ. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, triển khai Dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 là yếu tố then chốt. Thứ ba, cần tăng cường sự phối hợp giữa KBNN với cơ quan tài chính, thuế và UBND các xã trong việc lập, chấp hành và quyết toán ngân sách xã. Cơ chế chia sẻ thông tin và kiểm tra chéo sẽ giúp phát hiện và ngăn chặn sai phạm kịp thời. Cuối cùng, cần tăng cường công tác thanh tra tài chính và xử lý nghiêm các vi phạm trong chi tiêu công, qua đó nâng cao tính răn đe và kỷ luật tài chính. Đây là những bí quyết quan trọng để nâng cao hiệu quả kiểm soát chi.

4.1. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tài chính công

Con người là yếu tố quyết định. Luận văn đề xuất cần xây dựng kế hoạch đào tạo lại, cập nhật kiến thức mới về Luật Ngân sách Nhà nước, các thông tư, nghị định liên quan cho cán bộ KBNN và kế toán xã. Đồng thời, cần tăng cường giáo dục về đạo đức nghề nghiệp, phòng chống tiêu cực, sách nhiễu. Một đội ngũ cán bộ có năng lực chuyên môn vững vàng và phẩm chất đạo đức tốt là nền tảng vững chắc cho hoạt động tài chính công minh bạch và hiệu quả.

4.2. Tăng cường phối hợp liên ngành và hoạt động thanh tra kiểm tra

Sự phối hợp lỏng lẻo là một trong những nguyên nhân của hạn chế. Cần xây dựng quy chế phối hợp rõ ràng giữa KBNN - Tài chính - Thuế - UBND xã. Các bên cần thường xuyên trao đổi thông tin về dự toán, tình hình thu chi để có sự điều hành thống nhất. Hoạt động thanh tra tài chính chuyên ngành của KBNN và thanh tra của cơ quan tài chính cần được thực hiện thường xuyên, đột xuất để kịp thời chấn chỉnh các sai sót và xử lý nghiêm các vi phạm, góp phần thực hành tiết kiệm chống lãng phí.

4.3. Hiện đại hóa quy trình dựa trên chế độ kế toán và công nghệ mới

Việc áp dụng công nghệ thông tin là xu thế tất yếu. Cần tiếp tục hoàn thiện Hệ thống thông tin quản lý Ngân sách và Kho bạc (TABMIS), liên thông dữ liệu giữa các đơn vị. Đẩy mạnh giao dịch điện tử qua Dịch vụ công trực tuyến giúp giảm thời gian đi lại, minh bạch hóa hồ sơ. Việc tuân thủ chế độ kế toán hành chính sự nghiệp mới cũng giúp chuẩn hóa dữ liệu, tạo thuận lợi cho công tác kiểm soát và tổng hợp báo cáo, đóng vai trò quan trọng trong việc hiện đại hóa vai trò của kho bạc nhà nước.

V. Đánh giá kết quả thực tiễn và hiệu quả kiểm soát chi tại Quảng Bình

Luận văn đã sử dụng các tiêu chí cụ thể để đánh giá hiệu quả kiểm soát chi tại KBNN Quảng Bình. Một trong những chỉ số quan trọng là số liệu các khoản chi bị từ chối thanh toán. Phân tích Bảng 2.6 trong luận văn cho thấy KBNN đã phát hiện và từ chối nhiều khoản chi sai quy định, góp phần ngăn chặn thất thoát cho ngân sách. Thời gian xử lý hồ sơ cũng là một tiêu chí đánh giá hiệu suất. Nhờ cải cách thủ tục và ứng dụng công nghệ, thời gian kiểm soát đã được rút ngắn đáng kể, tạo thuận lợi cho đơn vị sử dụng ngân sách. Tuy nhiên, mức độ bám sát của chi thực tế so với dự toán vẫn chưa cao, thể hiện qua số liệu dự toán chi không hết bị hủy bỏ còn lớn (Bảng 2.5). Điều này phản ánh chất lượng lập dự toán vẫn là một điểm yếu. Kết quả khảo sát ý kiến từ các đơn vị giao dịch (Bảng 2.7) cho thấy sự hài lòng về thái độ phục vụ của cán bộ KBNN, nhưng vẫn có ý kiến về sự cần thiết phải tiếp tục đơn giản hóa thủ tục. Nhìn chung, công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách xã tại Quảng Bình đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, nhưng vẫn còn nhiều dư địa để cải thiện.

5.1. Phân tích số liệu từ chối thanh toán và tỷ lệ tiết kiệm ngân sách

Số liệu từ chối thanh toán là minh chứng rõ nét cho vai trò của Kho bạc Nhà nước trong việc "gác cổng" cho ngân sách. Việc từ chối các khoản chi không hợp lệ, sai chế độ đã trực tiếp tiết kiệm một khoản kinh phí đáng kể, đồng thời có tác dụng cảnh báo, nâng cao ý thức chấp hành của các đơn vị. Luận văn đã phân tích cụ thể các nguyên nhân từ chối, chủ yếu do sai chứng từ, chi vượt định mức, hoặc không đúng nội dung thanh toán. Đây là cơ sở thực tiễn để KBNN đưa ra các cảnh báo và hướng dẫn nghiệp vụ cho các xã.

5.2. Mức độ hài lòng của đơn vị sử dụng ngân sách đối với KBNN

Thông qua khảo sát, luận văn đã ghi nhận ý kiến đánh giá khách quan từ phía các UBND xã. Đa số các đơn vị đánh giá cao tinh thần trách nhiệm và thái độ phục vụ của cán bộ KBNN. Quy trình, thủ tục ngày càng được cải thiện theo hướng công khai, minh bạch. Tuy nhiên, vẫn còn một số ý kiến mong muốn thủ tục được đơn giản hơn nữa và cần có sự hướng dẫn nghiệp vụ kịp thời hơn khi có các chế độ, chính sách mới ban hành. Phản hồi này giúp KBNN nhận diện điểm mạnh và điểm yếu để tiếp tục hoàn thiện chất lượng dịch vụ.

27/07/2025
Luận văn thạc sĩ kế toán kiểm soát chi thường xuyên ngân sách xã tại kho bạc nhà nước tỉnh quảng bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Một số vấn đẻ chung về kiểm soát chỉ thường xuyên ngân sách xã qua kho bạc nhà nước Chương 2: Thực trạng kiểm soát chỉ thường xuyên ngân sách xã qua KBNN Quảng Bình Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát chỉ thường xuyên ngân sách xã qua KBNN Quảng Bình. Tổng quan tài liệu nghiên cứu: Qua quá trình tìm hiểu về công tác kiểm soát chỉ ngân sách nhà nước. Đã có rất nhiều các bài báo khoa học, các nghiên cứu liên quan đến công tác kiểm soát chỉ ngân sách nhà nước nói chung và kiểm soát chỉ thường xuyên ngân sách xã nói riêng. Cụ thể, một số bài báo có nội dung liên quan dang trên Tạp chí ngân quỹ Quốc gia như bài viết “Jướng mắc và một số đê xuất kiểm soát chỉ", Tạp chí Quản lý Ngân quỹ Quốc gia số 158, tr.

2015” của tác giả Đỗ thị Nhung; Bài viết “Những thuận lợi và khó khăn qua gân 10 năm phân cấp ngân sách xã” Tạp chí Quản lý Ngân quỹ Quốc gia số 138, tr. 26-27 của Ngô Thị Thu Hà (2013); Bài viết “Giải pháp nâng cao hiệu quả kiếm soát chỉ thường xuyên trong giai đoạn hiện nay” Tạp chí Quản lý Ngân quy Quốc gia số 159, tr. 31-34 của Nguyễn Công Điều (2015). Những bài viết này cơ bản đi sâu vào phân tích, phản ánh một khía cạnh nào đó liên quan đến công tác kiểm soát chỉ qua hệ thống KBNN, dua ra những, nhận định về công tác kiểm soát chỉ trong thời kỳ trước và những đổi mới mà KBNN đã làm được trong giai đoạn hiện nay.

Ngoài ra, tại Trường Đại học kinh tế Đà Nẵng, có rất nhiều các đề tài luận văn thạc sỹ được công bố tại trường có liên quan đến đề tài nghiên cứu như: - Luân văn thạc sỹ “Kiểm soát chỉ ngân sách xã tai KBNN DakHa, tỉnh Kontum” của Trần Khả Vân năm 2019: Ở luận văn này, tác giả đã hệ thống. hóa những cơ sở lý luận liên quan đến kiểm soát chỉ ngân sách xã cũng như. những vấn để còn tồn tại, hạn chế và những giải pháp cần được thực hiện để hoàn thiện kiểm soát chỉ ngân sách xã tại KBNN ĐăkHà, Kontum. Tuy nhiên, theo nhận định của bản thân tôi, luận văn được thực hiện trong năm 2019 nhưng chưa đề cập nhiều đến quy trình áp cụng công nghệ thông tin trong nhiệm vụ kiểm soát chỉ, nội dung kiểm soát chỉ mới chú trọng các nhiệm vụ chỉ cơ bản.

~ Luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện kiểm soát chỉ thường xuyên ngân sách xã tại KBNN Đãk Giong, tính Đắk Nông” của Võ Thị Hồng năm 2019: Ở Luận văn này, tác giả cũng đã hệ thống hóa, phân tích làm rõ một số vấn đề về chỉ thường xuyên NSNN nói chung và chỉ thường xuyên NSX nói riêng. Luận văn cũng đã phân tích các vấn đẻ lý luận liên quan đến hoạt động KSC NSX của KBNN, ảnh hưởng của các văn bản, thủ tục kiểm soát mới đến hoạt động Kiểm soát chỉ. ~ Luận văn thạc sỹ 'foàn thiện hoạt động kiểm soát chỉ thường xuyên ngân sách nhà nước qua KBNN Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình " của Trần Thị Lệ An năm 2020: Luận văn đã rút ra được những ưu điểm và những hạn chế trong công tác kiểm soát chỉ thường xuyên ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình và từ đó đề xuất các khuyến nghị nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chỉ thường xuyên ngân sách Nhà nước trong thời gian tới. Tuy nhiên các vấn đề phân tích vẫn còn mang tính chung chung, chưa nêu được những điểm mới trong thời kỳ có nhiều thay đổi cả về mặt văn 'bản pháp lý lẫn hình thức thực hiện kiểm soát chi tai KBNN.

Luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện hoạt động kiểm soát chỉ thường xuyên ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Đà fing” cia Doan Thi Thanh Toàn năm 2018: Từ phương diện lý luận cũng như các quy định của Luật NSNN và các văn bản pháp quy có liên quan, luận văn đã phân tích, làm rõ thêm về chỉ thường xuyên NSNN, cơ chế KSC thường xuyên NSNN qua KBNN; vai tò, vị thé và trách nhiệm của KBNN trong việc quản lý và kiểm soát chỉ thường xuyên các khoản chỉ của NSNN, trách nhiệm của đơn vị sử dụng ngân sách trong quá trình chỉ tiêu NSNN. Tuy nhiên đê tài vẫn chưa đưa ra các giải pháp rõ rằng giúp hoàn thiện công tác kiểm soát chỉ Các luận văn ở trên về cơ bản đã hệ thống hóa toàn điện những vấn đè lý luận và thực tiễn, tập trung phân tích khá toàn điện và đầy đủ thực trạng kiểm soát chỉ thường xuyên NSNN đặc biệt chú trọng vào phân tích chỉ thường xuyên NSX tại từng đơn vị cụ thể. Từ đó các dé tài cũng đã đề xuất các giải pháp nhằm để hoàn thiện và tăng cường công tác KSC thường xuyên NSX. Đây là cơ sở để giúp tôi có định hướng nghiên cứu áp dụng tại KBNN tỉnh Quảng Bình.

Tuy nhiên, xuất phát từ thực tiễn hoạt đông kiểm soát chỉ thường xuyên NSNN qua KBNN từng bước thay đổi, nhiều văn bản, chế độ mới được ban hành. Mặt khác, đến thời điểm hiện tại chưa có những nghiên cứu đi sâu về công tác kiểm soát chỉ thường xuyên ngân sách xã trong thời kỳ áp dụng luật NSNN 2015 và những đổi mới trong ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động kiểm soát chỉ của KBNN, Tại Kho bạc Nhà nước KBNN tỉnh Quảng Bình chưa có công trình nào nghiên cứu về công tác kiểm soát chỉ thường xuyên ngân sách xã nên đây là điều kiện để bản thân nghiên cứu và hoàn thiện đề tài. CHUONG 1 MOT SO VAN DE CHUNG VE KIEM SOAT CHI THUONG XUYEN NGAN SÁCH XÃ QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC 1. TÔNG QUAN VỀ KIÊM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1.

Khái niệm ngân sách nhà nước Theo Luật NSNN 2015, Ngân sách nhà nước được quy định như sau: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chỉ của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”, NSNN là một hệ thống thống nhất, bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phương (gọi chung là ngân sách địa phương).Phân cấp ngân sách nhà nước Phân cấp ngân sách nhà nước bao gồm: Ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách địa phương gồm ngân sách của các cấp chính quyền địa phương (Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; ngân sách huyện, quận, thị xã; ngân sách xã, phường, thị trấn (gọi tắt là ngân sách xã). Ngân sách trung ương quản lý thu, chỉ theo ngành kinh tế, nó luôn giữ. vai trò chủ đạo trong hệ thống ngân sách nhà nước.

Ngân sách trung ương cấp phát kinh phí cho yêu cầu thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước trung ương (sự nghiệp văn hóa - xã hội; sự nghiệp kinh tế; an ninh - quốc. phòng; trật tự an toàn xã hội; đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng. Trên thực tế Ngân sách trung ương là Ngân sách của cả nước, tập trung, đại bộ phân nguồn thu và đảm bảo các nhu cầu chỉ mang tính quốc gia Ngân sách địa phương quản lý thu NSNN trên địa bàn và chỉ ngân sách nhà nước địa phương. HĐND tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là NSNN cấp tỉnh) quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chỉ giữa các cấp chính quyển địa phương phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh va trình độ quản lý của mỗi cắp trên địa bàn.

Quan hệ giữa các cấp ngân sách trong hệ thống ngân sách nhà nước được thực hiện theo các nguyên tắc sau: Ngân sách trung ương và Ngân sách các cấp chính quyền địa phương. được phân định nguồn thu và nhiệm vụ chỉ cụ thê; “Thực hiện việc bỗ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới nhằm đảm bảo sự công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng lãnh thổ, các địa phương. Số bổ sung này là khoản thu của ngân sách cấp dưới; Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước cắp trên uỷ quyền cho cơ quan quản lý nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chỉ thuộc chức năng của mình. thì phải chuyền kinh phí từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới đề thực.

hiện nhiệm vụ chỉ đó (kinh phí uỷ quyền) Không được dùng ngân sách của cấp này chỉ cho nhiệm vụ của ngân sách cắp khác, trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ. Khái niệm chỉ ngân sách nhà nước Chỉ NSNN là toàn bộ các khoản chỉ của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong, một năm. Chỉ NSNN bao gồm các khoản chỉ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chỉ trả nợ của Nhà nước; chỉ viện trợ và các khoản chỉ khác theo quy định của pháp luật 1. Khái niệm chỉ thường xuyên ngân sách nhà nước: “Chỉ thường xuyên NSNN là quá trình phân phối, sử dụng nguồn lực tài chính nhà nước nhằm trang trải những nhu cầu của cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội thuộc khu vực công, qua đó thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước ở các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo dục và đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá thông tin, thé dục thể thao, khoa học và công nghệ môi trường và các hoạt động sự nghiệp khác.

Tom lai, chỉ thường xuyên NSNN là quá trình phân phối, sử dụng vốn từ quỹ NSNN để đáp ứng nhu cầu chỉ gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của nhà nước về quản lý kinh tế, xã hội. Kiểm soát chỉ ngân sách nhà nước và kiểm soát chỉ thường xuyên ngân sách nhà nước qua Kho bạc nhà nước a. Kiểm soát chỉ ngân sách nhà nước: Hoạt động kiểm soát chỉ ngân sách nhà nước được thực hiện nhằm đảm bảo tính tuân thủ các cơ chế, chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chỉ theo quy định cho cơ quan nhà nước có thâm quyền ban hành — của các chủ thé (các đơn vị, tổ chức, cá nhân) sử dụng NSNN, tại tắt cả các khâu của quá trình chỉ NSNN; thông qua đó điều chỉnh hoạt động chấp hành dự toán chỉ ngân sách của các chủ thê, nhằm đảm bảo các khoản chỉ NSNN đúng đối tượng, đúng mục đích, đúng yêu cầu và đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội đã đề ra ban đầu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ