PHAN MO DAU 1. Tính cấp thiết của đề KTQT chỉ phí có vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin về chỉ phí trong các doanh nghiệp. KTQT chỉ phí luôn tổnt trong mỗi tổ chức, mỗi đơn vị Tuy nhiên tác dụng cung cấp thông tin chơ các nhà quản trị doanh nghiệp khác nhau sẽ khác nhau, tuỷ thuộc vào việc xây dựng và khai thác hệ thống KTQT chỉ phí đó Các doanh nghiệp ở các nước phát triển đã xây dựng hệ thống KTQT, cung cấp thông in hữu ích cho các nhà quản tị nội bộ để trợ giúp ho trong việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch và kiểm tra, ánh giá việc thực hiện kế hoạch, từ đó có những quyết dịnh đúng dẫn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Còn ở nước ta, trước những năm 1990, với nền kinh tế kể hoạch hoá tập trung, các đơn vi không phải chịu súc ép cạnh tranh nên không thấy nhu cầu cần phải cố hệ thống KTỢT.
Cũng với sự đổi mới nên kinh tế sang cơ chế thị trường, khái niệm về KTQT và KTOT tri chi phi nuit lên tại nước ta từ đầu những năm 1990. Đến ngày 12 tháng 6 năm 2006 Bộ Tải Chính đã ban hành thông tư số 53/2006/TT-BTC vẻ việc "Hướng dẫn áp dụng KTQT trong doanh nghiệp”, nhưng việc triển khai, áp dụng cụ thé vào từng loại hình doanh nghiệp vẫn còn rất nhiễu hạn chế: Ngành in là một trong số các ngành có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, thục hiện việc cung cắp thông tin có ảnh hưởng trực tiếp đến các lĩnh vực. kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Ở nước ta mục tiêu của ngành in đã được đặt ra là xây dựng ngành in trở thành một ngành công nghiệp mũi nhọn, đạt trình độ của khu vực Đông nam A, dua năng lực ngành lên đáp ứng mọi nhu cầu in của đất nước, đồng thời chuẩn bị các điều kiện cần thiết để cạnh tranh và in gia công xuất khẩu sang các nước trong khu vực và trên thể giới (heo Hiệp hội ngành in).
Bên cạnh đó, đứng trước xu thể hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp in nói chung và Công ty TNHH một thành viên XSKT và dịch vụ in Đà Nẵng nói riêng muốn có chỗ đứng ving tn thi trường và giữ vững khách hing phai déi mới công nghệ, đầu tư máy móc thế bị, hiện đại hóa quy trình sản xuất, đa dạng hóa về kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm cũng như tiết kiệm chỉ phí và thời gian. Điều này đặt ra cho Công ty nhiều vấn đề phải giải quyết, trong đó làm thé nao để kiểm soát chỉ phí là một vẫn để cằn (được Công ty đặt lên hàng đầu. Trước nhu cầu cấp thiết như vậy đồi hỏi ng ty phải tổ chức thông tin kế toán qua đó có thể giúp cho nhà quản trị quản lý có hiệu quả hoạt động SXKD của mình. KTQT chỉ phí với đặc điểm riếng của mình đáp ứng những yêu cầu về thông tin của quản tr trong vie lap kế hoạch, tổ chức diều hình, kiểm tra và ra quyết định.
Xuất phát từ những vẫn đề lý luận và thự tiền, tôi đã chọn đề tài "Kế roán quân tị chỉ phí tại Công TNHH Một thành viên XSKT và dịch vụ In Đà Nẵng” 2. Tổng quan về đề tài nghiên cứu Việc nghiên cứu về kế toán quản r chỉ phí trong các doanh nghiệp đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Điển hình là các công trình nghiên cứu: “KTQT chỉ phí và đánh giá trách nhiệm trung tâm chỉ phí tại bưu điện thành phổ Đà Nẵng” của tác giả Phạm Thị Thúy Hằng (2007), “Tổ chức KTQT chỉ phí tong các Công ty cả phê Nhà nước rên địa bàn tỉnh Đăk LäK” của tác giả Nguyễn Thanh Trúc (2007), * Kế toán quân trị chỉ phí trong các doanh nghiệp Dệt ở Đà Nẵng, thực trạng và hấp hoàn thiện” của tác giá Đoàn Thị Lành (2008). Tắt cả các nghiên cứu này đã khái quất được các vấn đề lý luận chung về KTQT chỉ phí, thấy được tầm quan trọng của KTQT chỉ phí trong việc cung cắp thông tin về chỉ phí cho quản trị doanh nghiệp.
Các tác giả cũng nêu rõ nội dung của KTQT chỉ phí từ khâu lập kế hoạch, dự toán chỉ phí đến khâu lập các báo cáo lâm cơ sở đễ kiểm tra đánh giá chỉ phí cho .đến khâu phân tích chỉ Ì ra các quyết định kinh doanh. Mặc dầu vậy, ắt cả các công trình nghiên cứu về KTQT chỉ phí đã công bố đều chưa nghiên cứu chuyên sâu về KTQT chỉ phí áp dụng cho từng Công ty cụ thể trong từng ngành, phủ hợp với đặc điểm kinh doanh của từng Công ty. Hơn nữa trong xu thể hội nhập, để cạnh tranh hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam đã từng bước đưa KTQT chỉ phí vào trong tổ chức công tác kể toán, song việc vận dụng, KTQT chi phi cing chi dimg Iai ở khâu lập kế hoạch va quan tri chỉ phí Ở đây, luận văn tập trung nghiên cứu thực tế KTQT chi phí tai Công ty TNHH một thành viên XSKT và dịch vụ in Đà Nẵng, tác giả chuyên sâu nội dung KTQT chỉ phí tại Công ty như phân loại chỉ phí theo yêu cầu KTQT, công tác lập dự toán chỉ phí và các báo cáo kế toán phục vụ kiếm tra, kiểm soát chỉ phí. Đồng, thời luận văn còn đi phân tích chỉ phí phục vụ quá trình ra quyết định của nhà quản trị.
Qua đó giúp cho công tác KTQT chỉ phí tại Công ty được hoàn thiện hơn. Mục đích nghiên cứu. 'Về mặt lý luận, luận văn làm rõ bản chất, vai trò và nội dung KTQT chỉ phí trong quản trị doanh nghiệp. Nghiên cứu, đánh giá thực trang tổ chức KTQT chỉ phí tại Công ty TNHH.
một thành viên XSKT và dịch vụ in Đà Nẵng để tìm ra những vấn đẻ còn hạn chế. trong công tác KTQT ĐỀ xuất giải pháp hoàn thiện KTQT chỉ phí phủ hợp với yêu cầu của cơ chế thị trường và đặc thù của Công ty TNHH một thành viên XSKT và dịch vụ in Đà Nẵng 4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối trọng nghiên cứu Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về KTQT chỉ phí và hoàn thiện KTOT chỉ phí ở một Công ty có nhiều đặc thù: Công ty TNHH Một thành viên XSKT và dịch vụ In Đã Nẵng Phạm vỉ nghiên cứu. Đo thời gian có hạn, luận văn chỉ nghiên cứu KTQT chỉ phí tai Công ty TNHH Một thành viên XSKT và dich vụ in BN ở lĩnh vực in Ấn, không nghiên cứu lĩnh vực xổ số kiến thiết. Trên cơ sở khảo sát thực tế tình hình sản xuất kinh doanh.
dịch vụ In tại các phân xưởng sản xuất và văn phòng Công ty, tác giả hoàn thiện KTQT chỉ phí cho phù hợp với đặc điểm kinh doanh ở lĩnh vực này của Công ty. Phương pháp nghiên cứu “Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, dé tài nghiên cứu các vấn. 448 lý luận cũng như thực tiễn liên quan một cách logic và đảm bảo tính hệ thống. Luận văn sử dụng các phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp, phương pháp.
phân tích, so sánh, kiểm chứng. đễ trình bày các vẫn đề về tổ chức KTQT chỉ phí ở Công ty TNHH một thành viên SXKT và dịch vy in DN, từ đó tìm ra các tồn tại của Công ty, tổng hợp đưa ra kết luận từ thực tiễn và để xuất các giải pháp tổ chức KTQT tại Công ty. Những đóng góp của đề tài Hoàn thiện KTQT chỉ phí tại Công ty TNHH một thành viên SXKT và dich vu in Da ning v8 cée mặt ~ Xây đụng cơ sở cho việc ập dự toán chỉ phí linh hoạt ở Công ty - Lập các báo cáo chỉ phí phục vụ việc kiễm tra, đánh giá và ra quyết định kinh doanh ở Công ty - Phân tích chỉ phí phục vụ quá tình m quyết định ở Công ty T. Bố cục của luận văn.
Luân văn gồm 3 chương Chương: Cơ sở lý luận về k toán quản trị chỉ phí rong doanh nghiệp Chương 2: Thực trang KTQT chi phi tai Công ty TNHH Một thành viên XSKT và dịch vụ In Đà Nẵng Chương 3: Hoàn thiện tổ chức KTQT chỉ phí tại Công ty TNHH Một thành viên. XSKT và địch vụ In Đà Nẵng CHUONG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỆ TOÁN QUAN TRI CHI PHI 'TRONG DOANHH NGHIỆP 1. TÔNG QUAN VỀ KTQT CHÍ PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP. Bản eb {vai trd cia KTQT chỉ phí 1LI.
Bản chất KTQT chi phi xzor chỉ phí là một bộ phận của hệ thống kế toán. Chính vì vậy, bản chất của kế toán quản trị chỉ phí trước hết thể hiện ở bản chất của kế toán. Trải qua quá. trình hình thành và phát triển lâu đời, có rất nhiều định nghĩa về kế toán dưới các sóc độ khác nhau, tuy nhiên trong phần này tác giả chỉ phân tích hai định nghĩa cơ bản dưới góc độ bản chất và nội dung của kế toán “Thứ nhất, kế toán được định nghĩa là một bộ phận của hoạt động quản lý, với chức năng xử lý và cung cấp thông tin thực hiện về khách thể quản lý cho chủ thể quản lý (3, 111), Dinh nghia này hướng về bản chất của kế toán.
Quá trình sản xuất ra của cải vật chất là yêu cầu tắt yếu khách quan cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Để quá trình sản xuất được thực hiện một cách có hiệu quả, nhất thiết phải có hoạt động quản lý, tức lả hoạt động định hướng cho quá trình sản xuất và tổ chức thực hiện theo những hướng đã định. Trong hoạt động quản lý này, kế toán đồng vai trồ là cầu nối thông tin giữa khách thể quản lý (quả trình sản xuất) và chủ thể quản lý (các cơ quan quản lý). “Thứ bai, kế toán được định nghĩa là một quá trình định dạng, đo lường, ghỉ chép và cung cấp các thông tin về hoại động kinh tế của một tổ chức [10, 5], [48, 05].
Định nghĩa này hướng về nội dung của kế toán. Dưới góc độ này, kế toán cần áp dụng hệ thống các phương pháp đặc thủ (chứng từ, đổi ứng tải khoản, tính giá và tổng hợp — cân đối) để cung cắp các thông in phù hợp, tin cậy, nhất quần và so sánh. được nhằm giúp cho những người sử dụng thông tin đưa mì được các quyết dịnh đúng đắn đối với tổ chức Như vậy, xét một cách tổng quát, £ TQ chỉ phí có bản chất là một bộ phận của hoạt động quản lý và nội dung của #207 chỉ phí là quá trình định dạng, do lường, ghỉ chép và cung cấp các thông tin về chỉ phí hoạt động kinh doanh của một tổ chức.