Chương 1: Cơ sở lý luận về kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo. tài chính Chương 2: Nghiên cứu thực trạng kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính áp dụng tại Công ty AFA. Chương 3: Hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty AFA. CHUONG 1 CƠ SỞ LY LUAN VE KY THUAT CHQN MAU TRONG KIÊM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1.
KHÁI QUÁT VỀ KỸ THUẬT CHỌN MẪU TRONG KIÊM TOÁN BẢO CÁO TÀI CHÍNH 1. Khái niệm về kiểm toán báo cáo tài chính Kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông tin được kiểm tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa những thông tin đó với các chuẩn mực đã được thiết lập. Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi các kiểm toán viên đủ năng lực và độc lập [4] Kiểm toán báo cáo tài chính là hoạt động của các kiểm toán viên độc lập và có năng lực tiến hành thu thập và đánh giá các bằng chứng kiểm toán về các báo cáo tài chính được kiểm toán nhằm kiểm tra và báo cáo về mức độ trung thực, hợp lý của báo cáo tài chính được kiểm toán với các tiêu chuẩn, chuẩn mực đã được thiết lập. Do báo cáo tài chính bắt buộc phải được lập theo các chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán hiện hành nên các chuẩn mực.
kế toán và chế độ kế toán được sử dụng làm thước đo trong kiểm toán báo cáo tài chính [4], Mục tiêu tổng quát của kiểm toán báo cáo tài chính là giúp cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý xác nhận rằng báo cáo tải chính có được lập trên cơ sở chuân mực và chế độ kế toán hiện hành, có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không. Ngoài ra mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính còn giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục. nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị. Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính được thực hiện qua ba giai đoạn là: giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, giai đoạn thực hiện kiểm toán và giai đoạn kết thúc kiểm toán.
Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán Thu thập thông tin cơ sở như ngành nghề kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh, hoạt động kinh doanh, các bên liên quan. Đồng thời, KTV còn phải đánh giá việc sử dụng chuyên gia bên ngoài trong những tình huồng cần thiết. Thu thập thông tin về các nghĩa vụ pháp lý của khách hàng cần phải được kiểm tra ngay sau khi thu thập thông tin cơ bản. Những thông tin này được thu thập thông qua việc tìm hiểu điều lệ công ty, các quy chế của công ty khách hàng, các biên bản họp Ban Giám đốc và Hội đồng quản trị, các hợp đồng của công ty.
Sau khi đạt được các thông tin trên cần thực hiện các thủ tục phân tích sơ bộ nhằm để hiểu biết về ngành nghề kinh doanh và công việc kinh doanh của khách hàng, đánh giá khả năng tiếp tục hoạt động kinh doanh, chỉ ra những sai phạm có thể và để giảm công việc kiểm tra chỉ tiết “Thực hiện các thủ tục phân tích sơ bộ về tổng thể BCTC, xác định mức. trọng yếu và đánh giá rủi ro. Đánh giá và khoanh vùng rủi ro trọng yếu đối với từng phần hành, từng khoản mục để chuẩn bị cho chương trình kiểm toán. “Trên cơ sở kế hoạch tổng thé, KTV xây dựng chương trình kiểm toán cụ thể cho từng phần hành kiểm toán.
Trong quá trình thực hiện kiểm toán, các KTV sẽ phải tuân theo quy trình kiểm toán và chỉ được thay đồi trong các trường hợp đặc biệt. Tóm lại, giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán bao gồm sáu phần chính là chuẩn bị kế hoạch, thu thập thông tin cơ bản về khách hàng, thu thập thông tin về các nghĩa vụ pháp lý của khách hàng, đánh giá tính trọng yếu và rủi ro, tìm 10 hiểu cơ cấu kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát và việc khai triển hoạch kiểm toán toàn bộ và chương trình kiểm toán. Mỗi phần trong năm. phần đầu nhằm mục đích giúp KTV khai triển phần cuối cùng, một kế hoạch kiểm toán toàn bộ, một chương trình kiểm toán hiệu quả và hiệu lực.
Giai đoạn thực hiện kiểm toán Giai đoạn thực hiện kiểm toán bao gồm các bước sau: ~_ Kiểm tra, đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ; ~_ Kiểm tra, đánh giá hệ thống kế toán; ~_ Kiểm tra chỉ tiết từng chỉ tiêu trình bày trên Báo cáo tài chính; ~ Tổng hợp và đánh giá kết quả kiểm tra chỉ tiết cho từng khoản mục. trình bày trên Báo cáo tài chính. “Trong quá trình kiểm toán, KTV sẽ thực hiện thông qua hai phương pháp là thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơ bản Mục đích của thử nghiệm kiểm soát để đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng, phát hiện những điểm cẩn khắc phục và đề xuất với khách hàng những giải pháp hữu hiệu nhất để đảm bảo an toàn, hiệu quả cho khách hàng trong quá trình hoạt động kinh doanh. Đối với những doanh nghiệp có quy mô nhỏ, KTV thường bỏ qua thủ tục kiểm tra hệ thống kiểm soát nội bộ và tiến hành thử nghiệm cơ bản.
Đối với những doanh nghiệp có quy mô lớn, KTV áp dụng kỹ thuật chọn mẫu để đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ. Vì các kết quả của các khảo sát về nghiệp vụ là yếu tố quyết định chủ yếu phạm. vi các cuộc khảo sát chỉ tiết số dư, chúng thường được thực hiện trước ngày lập bảng cân đối tài sản từ hai hoặc ba tháng. Điều này giúp cho kiểm toán viên lập kế hoạch cho những điều ngoài ý muốn, xem xét lại chương trình kiểm toán cho những kết quả ngoài dự kiến và hoàn tắt cuộc kiểm toán cảng sớm sau ngày lập bảng cân đối tải sản cảng tốt.
i Mục đích của thử nghiệm cơ bản đề thu thập đầy đủ các bằng chứng về các số liệu và thuyết minh trên báo cáo tải chính để làm cơ sở đưa ra các ý lến nhận xét về tình hình tài chính cũng như tình hình hoạt động của khách hàng nhằm nâng cao hiệu quả tối đa của kiểm toán. Thử nghiệm cơ bản bao gồm các thủ tục phân tích và các cuộc khảo sát chỉ tiết số dư. Thủ tục phân tích nhằm đánh giá tính hợp lý chung của các nghiệp vụ và số dư. khảo sát chỉ tiết về số dư nhằm mục đích khảo sát đối với những sai sót tiền tệ trong các số dư trên báo cáo tài chính.
KTV thường kiểm tra chỉ tiết từng khoản mục trên báo cáo tài chính để đảm bảo không có sai sót trọng yếu xảy ra. KTV áp dụng kỹ thuật chọn mẫu thống kê hoặc phi thống kê để đánh giá từng khoản mục trên BCTC có được trình bày hợp lý hay không. © Giai đoạn kết thúc kiểm toám Sau khi các công việc được thực hiện ở hai giai đoạn trên, KTV phải tổng hợp kết quả và phát hành báo cáo kiểm toán. Những nội dung chủ yếu ở giai đoạn này gồm ~ Soát xét những khoản nợ tiềm tàng: là việc xem xét các khoản nợ ngoài ý muốn có thể phát sinh làm ảnh hưởng đến báo cáo tài chính như các khoản tiền có thể bị phạt bị bồi thường do bị kiện tụng.
~_ Soát xét các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc niên độ BCTC: các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc niên độ BCTC là những sự kiện có ảnh hưởng đến báo cáo tài chính phát sinh sau khi kết thúc năm tài chính, khóa số lập báo cáo tài chính nhưng trước khi ký báo các kiểm toán và cả những sự kiện phát sinh sau khi ký báo cáo kiểm toán. ~ Đánh giá các kết quả: KTV phải đánh giá các kết quả của cuộc kiểm toán và quyết định xem bằng chứng đã thu thập đầy đủ hay chưa. Các tư liệu được xem xét lại bởi những người có nhiều kinh nghiệm hơn người thực hiện ban đầu đề phát hiện những sai sót và đánh giá những lời bình và kết luận của 12 người kia. Quá trình xem xét lại sự đúng đắn của các tư liệu là cách chủ yếu.
để đảm bảo việc thực hiện có chất lượng và sự phán xét độc lập của toàn bộ nhóm kiểm toán. - Công bố báo cáo kiểm toán: căn cứ vào bằng chứng kiểm toán thu thập được và các phát hiện trong quá trình kiểm toán, KTV tổng hợp, đánh giá kết quả và xác định loại báo cáo kiểm toán phù hợp, lập và phát hành báo. Các kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính « Các khái niệm liên quan đến chọn mẫu trong kiểm toán BCTC Chọn mẫu kiểm toán là quá trình chọn một nhóm các phần tử hoặc đơn vị (gọi là mẫu) từ một tập hợp lớn các phần tử hoặc đơn vị (gọi là tông thể) và sử dụng các đặc trưng của mẫu để suy rộng cho các đặc trưng của toàn bộ tổng thể, Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 530, “lấy mẫu kiểm toán là việc áp dụng các thủ tục kiểm toán trên số phân tử ít hơn 100% tổng số phần tử của một tổng thể kiểm toán sao cho tắt cả các đơn vị lấy mẫu đều có cơ hội được lựa chọn nhằm cung cấp cho kiểm toán viên cơ sở hợp lý đề đưa. ra kết luận về toàn bộ tổng thể Tổng thể là toàn bộ dữ liệu mà từ đó kiểm toán viên lầy mẫu nhằm tút ra kết luận về toàn bộ dữ liệu đó [2].
Ví dụ, tất ả các phần tử trong một số dư. tài khoản hay một loại nghiệp vụ cấu thành một tổng thể. Một tổng thể có thể được chia thành các nhóm hoặc các tổng thể con và mỗi nhóm được kiểm tra riêng Đơn vị lấy mẫu là các phần tử riêng biệt cấu thành tông thể [2]. Đơn vị lấy mẫu có thể là đơn vị hiện vật (ví dụ các séc trong bảng kê nộp tiền, các nghiệp vụ ghi có trên số phụ ngân hàng, hóa đơn bán hàng hoặc số dư nợ các khoản phải thu khách hàng) hoặc đơn vị tiền tệ.
13 Cỡ mẫu là số lượng các phần tử trong tổng thể được lựa chọn theo tiêu thức nhất định vào mẫu đề kiểm tra. Mục 10, 11 của VSA 530 có nêu rằng, kiểm toán viên phải đảm bảo rủi ro kiểm toán do áp dụng phương pháp lấy mẫu giảm xuống mức có thể chấp nhận được khi xác định cỡ mẫu.