Chương 1: Cơ sở lý luận về dự toán tổng thể tại các doanh nghiệp công. ích Chương 2: Thực trạng công tác lập dự toán tổng thể tại Công ty TNHH MTV Khai thác thủy lợi Quảng Nam. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác lập dự toán tổng thé tại Công ty TNHH MTV Khai thác thủy lợi Quảng Nam. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VẺ DỰ TOÁN TONG THE TẠI CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG ÍCH 1.
KHÁI QUÁT CHUNG VE LAP DU TOAN TONG THE DOANH NGHIEP 1. Dự toán Trong các chức năng của quản trị, hoạch định là chức năng quan trong không thể thị với mọi doanh nghiệp. Kế hoạch là xây dựng mục tiêu của doanh nghiệp và vạch ra các bước thực hiện để đạt được mục tiêu đã đặt ra. Dự toán là việc hiện thực hóa kế hoạch trên phương diện tài chính nhằm.
liên kết các mục tiêu cụ thể, chỉ rõ các tải nguyên phải sử dụng, đồng thời dự. tính kết quả thực hiện trên cơ sở các kỹ thuật dự báo. Theo nghĩa hẹp, dự toán là việc ước tính toàn bộ thu nhập, chỉ phí của doanh nghiệp trong một thời kỳ để đạt được một mục tiêu nhất định. ‘Theo nghĩa rộng, dự toán được hiểu là dự kiến các công việc, nguồn lực cần thiết dé thực hiện các mục tiêu trong một tổ chức.
Quá trình lập dự toán. đòi hỏi cần phải xác định: ai lập dự toán và những người nào sẽ thực hiện dự toán theo phân cấp quản lý của doanh nghiệp. Công việc này được thực hiện nhằm gắn liền với trách nhiệm của mỗi bộ phận, mỗi cá nhân với mục tiêu của doanh nghiệp. Như vậy, dự toán của doanh nghiệp không chỉ gắn với việc tổ chức thực hiện mà còn là cơ sở để thực hiện công tác kiểm tra, kiểm soát sau này.
Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp đều hoạt động theo các. mục tiêu đã xác định. Các doanh nghiệp kinh doanh hoạt động chủ yếu vì mục tiêu lợi nhuận, các doanh nghiệp phi lợi nhuận hoạt đông vì các mục tiêu công. Nhưng bắt kỳ doanh nghiệp nào hoạt động cần phải xây dựng.
các chiến lược dài hạn, ngắn hạn nhằm ôn định môi trường kinh doanh và các 10 nhà quản trị chủ động trước sự biển động thất thường của nên kinh tế. toán chính là sự cụ thể hóa của của các mục tiêu đài hạn, các kế hoạch tổng thể trong một khoảng thời gian xác định (Nguyễn Ngọc Quang, 2012). 'Vậy, dự toán là những dự kiến, những phối hợp chỉ tết, chỉ rỡ cách huy. động và sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp trong từng thời kỳ và được biểu cdiễn bằng một hệ thống chỉ tiêu dưới dạng số lượng và giá trị 1.
Dự toán tổng thể doanh nghiệp. 'Dự toán tổng thể doanh nghiệp là sự tính toán, dự kiến một cách toàn. điện mục tiêu kinh tế, tài chính mà doanh nghiệp cần đạt được trong kỳ hoạt động, đồng thời chỉ rõ cách thức huy động, sử dụng vốn và các nguồn khác để thực hiện các mục tiêu của đơn vi. Thông tỉa trên dự toán là cơ sở để đánh giá kết quả hoạt động của các bộ phận và của từng cá nhân trong bộ phận nhằm.
phục vụ tốt cho quá trình tố chức và hoạch định trong doanh nghiệp. tổng thể có các đặc điểm sau: ~ Dự toán tông thể trong doanh nghiệp là dự toán thể hiện mục tiêu của. tất cả các bộ phận trong doanh nghiệp, như bán hàng, sản xuất, nghiên cứu, marketing, dịch vụ khách hằng, tài chính ~ Dự toán tổng thể trong doanh nghiệp là dự toán định lượng các kì vọng của nhà quản lí về thu nhập, các luồng tiền vả vị trí tải chính trong. tương lại ~ Dự toán tổng thể là tổ hợp của nhiều dự toán của tắt cả các hoạt động.
của doanh nghiệp, và có liên hệ với nhau trong một thời kì nào đó. ~ Dự toán tổng thể có thể lập cho nhiều thời kì như tháng, quí, năm. Hình thức và số lượng các dự toán thuộc dự toán tổng thể tùy thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp. " Thông thường, dự toán tổng thể bao gồm hai phần chính: dự toán hoạt động và dự toán tải chính: - Dự toán hoạt động là dự toán phản ánh mức thu nhập và chỉ p thiết để đạt được mục tiêu lợi nhuận.
~ Dự toán tài chính là dự toán phản ánh tỉnh hình tải chính theo dự kiến và cách thức tài trợ cẳn thiết cho các hoạt động đã lập dự toán. Mỗi loại dự toán trên lại bao gồm nhiều dự toán bộ phận có liên quan chặt chẽ với nhau. Kết quả của quá trình xây dựng dự toán là các báo cáo nội bộ và các báo cáo đó phục vụ cho công tác quản lý tại đơn vị và không thể cung cấp cho người ngoài doanh nghiệp. Phân loại dự toán 'Dự toán là một công cụ quản lý rất hữu ích, tuy nhiên để phát huy được tính hữu ích của công cụ quản lý này đòi hỏi nhà quản trị phải có sự am hiểu.
các loại dự toán để có thể ứng dụng một cách thích hợp nhất vào việc quản lý: doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Tủy theo nhu cầu cung cấp thông tin của nhà quản lý cũng như mục dich phat trién của doanh nghiệp trong tương li, khi xây dựng dự toán các nhà quản trị có thể lựa chọn các loại dự toán khác nhau. Căn cứ vào từng tiêu thức phân loại cụ thể, dự toán được phân loại thành: & Phân loại theo chức năng Nếu thực hiện phân loại theo chức năng, dự toán bao gồm các loại sau: ˆ* Dự toán hoạt động: là dự toán phản ánh mức thu nhập và chỉ phí dự tính để đạt mục tiêu lợi nhuận; đây là những dự toán liên quan đến các hoạt động chức năng diễn ra hàng ngày trong một tổ chức. Thông thường trong một doanh nghiệp sản xuất, dự toán hoạt động gồm có: ~ Dự toán tiêu thụ.
12 ~ Dự toán sản xuất. ~ Dự toán mua và sử dụng vật liệu trực tiếp. - Dự toán lao động trực ~ Dự toán chi phí sản xuất chung. ~ Dự toán giá vốn thành phẩm tồn kho cuối kỳ.
- Dự toán giá vốn hàng bán. ~ Dự toán chỉ phí bán hàng và quản lý. * Dự toán tài chính: là các dự toán liên quan đến tiền tệ, nhằm dua ra các kế hoạch huy động nguồn tài chính của doanh nghiệp; là những dự toán về tình hình và kết quả tài chính trong kỳ dự toán, bao gồm: ~ Dự toán tiễn mặt. ~ Dự toán Báo cáo kết quả kinh doanh.
~ Dự toán Bảng cân đối kể toán. Phân loại theo mỗi quan hệ sức độ hoqf động Theo Nguyễn Ngọc Quang (2012), có hai loại dự toán là dự toán tĩnh và dự toán linh hoạt - Dự toán tĩnh: là dự toán được lập theo một mức độ hoạt động nhất định. Theo định nghĩa, dự toán tĩnh sẽ không bị điều chỉnh hay thay đổi ké tir khi được lập ra; cho dù có bắt kể có sự thay đổi nào về doanh thu tiêu thy, hay các điều kiện kinh doanh xảy ra trong kỳ dự toán. Nhưng trong thực tế luôn tồn tại sự biến động của các yếu tố chủ quan và khách quan lên hoạt động của.
Doanh nghiệp như: sự lên xuống của giá cả thị trường, sản lượng tiêu thụ biến động, thay đổi các chính sách kinh tế. Do đó, dự toán tĩnh thường phù hợp với những doanh nghiệp sản xuất sản phẩm theo đơn đặt hàng, tình hình sản xuất kinh doanh ổn định, B ~ Dự toán linh hoạt: là dự toán được lập với nhiều mức độ hoạt động khác nhau trong cùng một phạm vi hoạt động. Dự toán linh hoạt giúp nhà quản trị thấy được sự biển động chỉ phí khi mức độ hoạt động thay đổi. toán linh hoạt có ý nghĩa trong việc đánh giá hiệu quả kiểm soát chỉ phí thực tế của doanh nghiệp và phủ hợp với những doanh nghiệp sản xuất theo nhu cầu thị trường.
Phan loai theo thời gian “Theo Nguyễn Ngọc Quang (2012), dựa trên thời gian lập dự toán, dự. toán được chia ra thành dự toán ngắn hạn và dự toán dài hạn. ~ Dự toán ngắn hạn (hay còn gọi là Dự toán tổng thể doanh nghiệp): Là dur toán chủ đạo được lập cho kỳ kế hoạch (thông thường là một năm tài chính) và được chia thành từng quý, từng tháng, tuần.dựa trên nhu cầu của nhà quản lý. Dự toán ngắn hạn là dự toán nguồn tải chính hoạt động hàng năm liên quan đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như tiêu thụ, sản xuất, mua hàng, thu, chỉ.
Dự toán ngắn hạn là cơ sở đưa ra các quyết định tác nghiệp. ~ Dự toán dài hạn: Là những dự toán liên quan đến nguồn tài chính cho việc mua sắm tài sản cố định, dat dai, nhà xưởng, tài sản dài hạn gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp trong nhiều năm. Dự toán đài hạn đảm bảo khi thời hạn dự toán kết thúc doanh nghiệp sẽ có đủ nguồn vốn sẵn sằng đáp ứng. nhu cầu mua sắm tài sản cố định mới.
Dự toán dài hạn chính là những kế hoạch dài hạn thể hiện các mục tiêu chiến lược, phát triển của doanh nghiệp. LAP DU TOAN TONG THẺ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG ÍCH DO NHÀ NƯỚC NÁM GIỮ 100% VON DIEU LE 1. Dự toán tổng thể tại doanh nghiệp công ích do nhà nước nắm. giữ 100% vốn điều lệ 4 Dự toán tổng thể tại Doanh nghiệp công ích do Nhà nước nắm giữ.
100% vốn điều lệ được xây dựng không giống với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh bình thường khác. Doanh nghiệp công ích do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là đơn vị sản xuất đặc thủ, sử dụng kinh phí ngân sách Nhà nước nên khi xây dựng dự toán tổng thể tại doanh nghiệp phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật và cụ thé được quy định tại Nghị định số 130/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ về sản xuất và cung ứng sản phẩm, địch vụ công ích, nay được thay thế bằng Nghị định. 32/2019/NĐ-CP ngày 10/42019 quy định giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đầu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công sử dụng ngân sách từ nguồn chỉ thường. Các căn cứ để lập dự toán tại doanh nghiệp: ~ Dự toán được cấp có thẩm quyền giao đặt hàng sản xuất, cung ứng.
sản phẩm, dịch vụ công ích. ~ Các chỉ tiêu về sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích; dự toán về chỉ phí hợp lý sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích.