Chương 1: Cơ sở lý luận về đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán báo. cáo tài chính Chương 2: Công tác đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính áp dung tại Công ty TNHH Kiểm toán - Thẩm định giá và Tư vấn ECOVIS AFA VIỆT NAM Chương 3: Hoàn thiện công tác đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán bao cdo tai chính tại Công ty TNHH Kiểm toán — Thẩm định giá và Tư vấn. ECOVIS AFA VIỆT NAM. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỀM TOÁN TRONG KIÊM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1.1, KHÁI QUÁT VỀ RỦI RO KIÊM TOÁN 1.
Các khái niệm về rũi ro Rủi ro là một sự kiện xây ra nằm ngoài ý muốn và khi xây ra sẽ mang lại một kết quả không có lợi. Có nhiều định nghĩa về rủi ro và các cách tiếp. cân được thực hiện để quản lý rủi ro. Trong chương này, tác giả xác định bốn loại rủi ro có liên quan đến việc thực hiện một cuộc kiểm toán: ~ Rủi ro kinh doanh là các sự kiện có khả năng ảnh hưởng tới việc dat được mục tiêu hoặc quá trình thực hiện chiến lược kinh doanh của đơn vị (Jubb và công sự, 2012) ~ Rủi ro báo cáo tài chính là rủi ro liên quan đến việc trình bảy các dữ.
liệu tài chính trong báo cáo tải chính của một đơn vị. (Jubb và cộng sự, 2012) ~ Rủi ro hợp đồng là rủi ro KTV gặp phải với một khách hàng cụ thể, bao gồm mắt uy tín, khách hàng kiểm toán không có khả năng thanh toán phí kiểm toán cho kiểm toán viên hoặc chịu tổn thất tài chính do ban quản lý khách hàng được kiểm toán không trung thực và cản trở quá trình kiểm toán. (Jubb va cộng sự, 2012) ~ Rủi ro kiểm toán (AR) là rủi ro mà KTV đưa ra ý kiến kiểm toán không thích hợp khi BCTC đã được kiểm toán vẫn còn những sai sót trọng yếu. (Jubb và công sự, 2012) Mối quan hệ giữa bốn loại rủi ro được thể hiện ở sơ đồ sau: 'Yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro kinh 'Yêếu tố ảnh hưởng đến rúi ro báo cáo.
doanh, tài chính ~_ˆ Mỗi trường kinh tế ~_ Tính chính trực và năng lực của = ˆ Phát tiễn công nghệ bạn lãnh đạc -_ Sự cạnh tranh = Bong cơ về gian lận báo cáo tải - _ Sự biển động của doanh nghiệp chính -_ Vitiđịalý - _ Sự phức tạp của giao dịch ~_ Kiểm soát nôi bô, Rui ro kinh doanh vA Rui ro báo cáo tài chính. TT, Rủi ro Hợp đồng kim toán Rủi ro Kiểm toán. Sơ đồ lối quan hệ giữa các loại ro (Nguồn: Jubb và cộng sự, 2012). 'Từ sơ đồ trên cho thấy, rủi ro kinh doanh và rủi ro báo cáo tài chính bắt nguồn từ khách hàng kiểm toán và môi trường kinh doanh của khách hàng, và những rủi ro này ảnh hưởng đến rủi ro hợp đồng và rủi ro kiểm toán.
thể kiểm soát rủi ro kiểm toán theo hai cách khác nhau: ~ Tránh rủi ro kiểm toán bằng cách không chấp nhận một số công ty là khách hàng. ~ Xác định rủi ro kiểm toán mong muốn ở mức mà KTV tin rằng sẽ giảm thiểu rủi ro không xác định được các sai sót trọng yếu. Khi kiểm soát rủi ro kiểm toán, kiểm toán viên phải nhận thức rằng không thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro kiểm toán, nhưng có thể giảm thiểu rủi ro này bằng cách thực hiện nhiều công việc hơn. Trong đó AR: Rui ro kiểm toán.
IR: Rui ro tiém tang CR: Rủi ro kiếm soát DR: Rai ro phat hign Khi kết hợp IR và CR thành rủi ro cé sai sot trong yéu (Risk of Material Misstatement, viét tt i RMM, RMM = IR x CR), theo đó mô hình được viết lại AR = RMM x DR (2) 1. Vận dụng mô hình rúi ro kiểm toán trong kiểm toán BCTC. Trong 3 yếu tố cấu thành rủi ro kiểm toán, rủi ro phát hiện là thành phần duy nhất KTV có thể kiểm soát được thông qua việc điều chỉnh nội dung, thời gian và phạm vi của các thử nghiệm kiểm toán. Vì thể, khi lập kế hoạch kiểm toán, KTV thường xác định mức rủi ro kiểm toán mong muốn.
"Đồng thời, dựa trên các thong tin tim hiểu khách hàng kiểm toán để đánh giá rủi ro tiềm ting và rủi ro kiểm soát từ đó xác định rủi ro phát hiện kế hoạch, làm cơ sở cho việc thiết lập các thủ tục kiểm toán. Do đó, công thức (1) được viết lại như sau: PDR = AAR((IR x CR) Voi AAR: Rai ro kiểm toán mong muốn PDR: Rui ro phát hiện kế hoạch 'Rủi ro phát hiện kế hoạch phụ thuộc vào ba yếu tố khác trong mô hình và sẽ chỉ thay đổi nếu KTV thay đổi một trong ba yếu tổ khác của mô hình rủi 12 Mô hình rủi ro kiểm toán chỉ ra các bộ phận tác động đến rủi ro kiểm toán và mối quan hệ giữa các bộ phận rủi ro này. Việc vận dụng mô hình rủi ro kiểm toán giúp KTV thiết lập các thủ tục kiểm toán phù hợp, cụ thể là: ~ Đánh giá IR thông qua việc tìm hiểu về hoạt động kinh doanh của đơn Vi được kiểm toán cũng như đặc, của khoản mục liên quan. ~ Đánh giá rúi ro kié soát thông qua việc tìm hiểu về hệ thống KSNB.
~ Trên cơ sở mức IR và CR đã được đánh giá, kết hợp mức rủi ro kiểm toán mong muốn, kiểm toán viên xác định mức rủi ro phát hiện kế hoạch. là cơ sở để thiết kế các thủ kiểm toán tiếp theo. ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIÊM TOÁN TRONG KIÊM TOÁN BÁO. CÁO TÀI CHÍNH “Theo chuẩn mực kiểm toán số 315 (VSA 315, Bộ tài chính): “Đánh giá rủi ro là thủ tục kiểm toán được thực hiện để thu thập các hiểu biết về đơn vị được kiếm toán và môi trường của đơn vị, trong đó có kiểm soát nội bộ, nhằm xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhằm lẫn ở cấp độ báo cáo tài chính hoặc cấp độ cơ sở dẫn liệu.” Mục tiêu của việc đánh giá rủi ro kiểm toán là thiết lập mức rủi ro phát hiện kế hoạch đề từ đó cuộc kiểm toán đạt được mức rủi ro kiểm toán mong muốn làm tiên để cho việc thiết kế và triển khai các thủ tục kiểm toán.
vậy, đánh giá rủi ro là một quá trình tổng hợp việc xác định và đánh giá từng yếu tố của rủi ro kiểm toán đề từ đó xác định nội dung, lịch trìnhvà phạm vi của các thủ tục kiểm toán tiếp theo nhằm mục tiêu đạt được mức rủi ro kiểm toán như mong muốn 15 lập phụ thuộc vào một sản phẩm có nhiều khả năng phá sản hơn một nhà sản xuất thực phẩm đa dạng. «Năng lực của ban quản tị: Khi xem xét tình hình tài chính, KTV cẩn đặc biệt quan tâm đến năng lực của ban quản trị. Việc đánh giá khả năng quản lý như một pI của việc đánh giá khả năng phá sản. ~ Tính liêm chính của ban Giám là một phần của cuộc điều tra trong giai đoạn chấp nhận khách hàng của một cuộc kiểm toán.
Nếu ban Giám đốc của khách hàng có vấn đề h liếm chính, KTV đánh giá mức rủi ro kiểm toán mong muốn ở mức thấp hơn. Ban Giám đốc có tính liêm chính. thấp thường tiến hành các công việc kinh doanh của công ty trong một cách thức dẫn đến xung đột với các cỗ đông, cơ quan quản lý và khách hàng của họ. Sự luân chuyển thường xuyên của các cán bộ quản lý phụ trách tải chính và kiểm toán nội bộ cũng như xung đột liên tục với các công đoàn và nhân viên cũng có thể là vấn đề về tính liêm chính.
Để đánh giá rủi ro kiểm toán mong muốn, trước tiên KTV phải đánh giá từng yếu tố ảnh hưởng đến AAR và công việc nảy mang tính xét đoán cao. Rủi ro kiểm toán mong muốn cảng thấp thì KTV cần thu thập nhiều bằng chứng hơn, chỉ định nhiều hơn nhân sự có kinh nghiệm, vả / hoặc việc xem xét tài liệu kiểm toán sâu rộng hơn. Đánh giá rủi ro sai sót trọng yếu. Tìm hiểu về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị Việc hiểu biết về tình hình kinh doanh và hoạt động của doanh nghiệp được kiểm toán và các rủi ro liên quan giúp KTV nhận đạng các rủi ro sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính làm căn cứ xác định các thủ tục kiểm toán phù hợp, các nội dung bao gồm: ~ Những yếu tố có ảnh hưởng đến ngành nghề bao gồm môi trường cạnh tranh, mối quan hệ với nhà cung cấp, với khách hàng và các tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Kiểm toán viên cần chú ý các vấn để như: thị trường, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành, các hoạt động có tính mùa vụ, sản phi khả năng sản xuất, cung cấp dịch vụ, ảnh hưởng của công nghệ, ng cung cấp năng lượng và chỉ phí. Ngành mà don vị dang hoạt động có thể làm phát sinh những rủi ro có sai sót trọng yếu do tính chat hoạt động kinh doanh. hoặc do các quy định áp dụng. Ví dụ, các hợp đồng dài hạn có thể liên quan đến những ước tính lớn về doanh thu và chỉ phí, do đó làm tăng rủi ro có sai sót trọng yếu.
Trong trường hợp này, nhóm kiểm toán cần có thành viên có đủ. kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm phù hop ~ Các yếu tố pháp lý bao gồm môi trường pháp lý, trong đó có khuôn khổ lập và trình bày báo cáo tải chính được áp dụng, môi trường chính trị và pháp luật. Các vấn đề kiểm toán viên cần xem xét bao gồm: Chế độ kế toán mà ngành nghề đang áp dụng và các thông lệ của ngành, hệ thống các quy định cho từng ngành nghề, hệ thống pháp luật và các quy định có ảnh hướng lớn tới hoạt động của đơn vị, trong đó có các hoạt động giám sắt trực tiếp, thuế (thuế thu nhập doanh nghiệp và các loại thuế khác), các chính sách. do Nhà nước ban hành hiện đang ảnh hưởng tới hoạt động của đơn vị, các quy định về môi trường ảnh hưởng đến ngành nghẻ và hoạt động của đơn vi.
7 - Đặc điểm của đơn vị như: lĩnh vực, ngành nghề hoạt động, loại hình doanh nghiệp, các hình thức đầu tư, cơ cấu hoạt động, cơ cấu vốn.