Chương I: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất. Chương 3: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phâm may mặc tại Công ty cỗ phần 199 Chương 4: Giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm may mặc tại Công ty cô phần 199. 12 CHUONG 2: CO SO LY LUAN VE KE TOAN CHI PHi SAN XUAT VA GIA THANH SAN PHAM TRONG DOANH NGHIEP SAN XUAT 2. Khái quát chung về chỉ phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất 2.
Chi phí sản xuất 2. Khái niệm Quá trình SXKD là quá trình mà doanh nghiệp phải thường xuyên đầu tư các loại chi phí khác nhau để cùng đạt được mục đích là tạo ra khối lượng sản phẩm, lao vụ hoặc khối lượng công việc phù hợp với nhiệm vụ sản xuất đã xác định và thực hiện. Thực chất hoạt động SXKD của DN là sự vận động, kết hợp, tiêu dùng và chuyển đổi các yếu tố tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động để tạo ra kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất. Quá trình vận động của chu kỳ SXKD có thể khái quát thành ba giai đoạn.
Quá trình hoạt động SXKD của doanh nghiệp được thực hiện liên tục, lặp lại không ngừng và điểm khởi đầu của mỗi quá trình SXKD là tiền, các khoản phải thu, các tài sản khác. Như vậy, chi phí hoạt động của doanh nghiệp phát sinh trong tat cả các giai đoạn sản xuất, tuy nhiên chỉ các chỉ phí phát sinh trong giai đoạn biến đổi các yếu tố đầu vào để trở thành các sản phẩm, lao vụ, dịch vụ mới được gọi là chi phi san xuất. Chỉ phí sản xuất có thể được định nghĩa theo nhiều phương diện khác nhau. Theo VAS 01 và IAS 01 “Chuẩn mực chưng” thì: “Chi phí là các yếu tô làm giảm các lợi ích kinh tế của doanh nghiệp trong kỳ, dưới hình thức các khoản tiền chỉ ra hoặc giảm tài sản hoặc làm phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm nguồn vốn chủ sở hữu nhưng không bao gồm khoản phân phối cho các cô đông hoặc chủ sỡ hữu”.
Theo định nghĩa này, chi phí được xem xét theo từng kỳ kế toán và là các khoản mục trong báo cáo tài chính. Theo cách đó thì chỉ phí được ghi nhận, phản ánh theo những nguyên tắc nhất định. Dinh nghĩa chỉ phí như vậy phù hợp khi đứng trên góc độ của đối tượng sử dụng thông tin kế toán tài chính, chủ yếu là đối tượng bên ngoài doanh nghiệp. 13 Vậy để tiến hành hoạt động sản xuất kinh đoanh của mình các doanh nghiệp phải huy động, sử dụng các nguồn lực như lao động, vật tư, tiền vốn.
để tạo ra sản phẩm hay hoàn thành công việc, lao vụ của mình. Những chỉ phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra dé tiến hành sản xuất sản phâm, hoàn thành công việc, lao vụ đó được gọi là chi phí sản xuất. Chi phí sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp phát sinh thường xuyên trong suốt quá trình tồn tại và hoạt động của doanh nghiệp. Nhưng để phục vụ cho nhu cầu quản lý chỉ phí sản xuất kinh doanh phải được tập hợp theo từng thời kỳ: tháng, quý, năm.
Trên góc độ KTTC: Chi phí sản xuất hay chỉ phí chế tạo sản phẩm là toàn bộ các khoản chi phi liên quan tới việc sản xuất, chế tạo sản phẩm phát sinh trong quá trình sản xuất. Toàn bộ các chỉ phí này được tính vào giá thành sản phẩm. Chỉ những chỉ phí dùng dé tiến hành các hoạt động sản xuất mới được coi là chi phí sản xuất và là bộ phận quan trọng trong chi phí SXKD của DN. Chỉ phí sản xuất gồm nhiều khoản mục khác nhau, thông thường gồm: CP nguyên vật liệu trực tiếp, CP nhân công trực tiếp, CP sản xuất chung.
Trên góc độ KTOT: Chi phí có thể là dòng phí tổn thực tế gắn liền với hoạt động hàng ngày khi tổ chức thực hiện, kiểm tra, ra quyết định, chi phí cũng có thể là dòng phí tổn ước tính đề thực hiện dự án, những phí tốn mắt đi do chọn lựa phương án, hy sinh cơ hội kinh doanh. Như vậy, chi phí có thê đã thực tế phát sinh, cũng có thể chưa phát sinh mà mới chỉ ước tính; có thể là những cơ hội bị mat di do chúng ta đã lựa chọn một cơ hội khác. Chi phi không phải gắn liền với một kỳ cụ thể nào mà nó được xem xét gắn liền với các phương án, cơ hội kinh doanh gắn liền với một quyết định cụ thể mà nhà quản trị phải đưa ra. Chi phí là các hy sinh về các lợi ích kinh tế, phản ánh các nguồn lực mà đơn vị sử dụng để cung cấp các sản phẩm, dịch vụ.
Xét về mặt bản chất thì chỉ phí sản xuất là sự chuyên dịch vốn vào đối tượng tính giá nhất định, vốn này được DN bỏ ra trong quá trình sản xuất. Xuất phát từ mục đích và nguyên tắc KD thì mọi sản phẩm tạo ra luôn được DN quan tâm đến hiệu quả mang lại. Phân loại chỉ phí sản xuất a) Phân loại CP theo nội dung tính chất kinh tế của chỉ phí Đặc điểm của cách phân loại này là căn cứ vào nội dung, tính chất kinh tế của chỉ phi, các chi phí giống nhau được xếp vào một yếu tố, không phân biệt chỉ phí đó phát sinh trong lĩnh vực hoạt động nào, bao gồm: Chỉ phí nguyên vật liệu: Là trị giá nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế đã sử dụng phục vụ trực tiếp sản xuất. Chỉ phí tiền lương, tiễn công: Là chi phí về tiền lương, tiền công phải trả cho người lao động tham gia vào quá trình sản xuất.
Chỉ phí các khoản trích theo lương: Là các khoản trích theo lương phải trả người lao động như BHXH, BHYT, BHTN, KPCD. Chỉ phí về công cụ, dụng cụ: Là giá trị công cụ dụng cụ xuất sử dụng và tính phân bổ cho chỉ phí sản xuất trong kỳ. Chỉ phí khấu hao tài sản cố định: Là chi phí về tri gid hao mon cua TSCĐ sử dụng phục vụ trực tiếp cho sản xuất. Chỉ phí dịch vụ mua ngoài: Là các khoản chi phí về dịch vụ phục vụ trực tiếp cho quá trình sản xuất như: Vận chuyển, điện thoại, nước.
Các chỉ phí khác bằng tiền: Là những khoản chi phí trực tiếp khác ngoài những chỉ phí trên như: tiếp khách, hội nghị, thuế tài nguyên (nếu có). Cách phân loại này cho biết kết cấu, tỷ trọng của từng loại chi phí sản xuất mà doanh nghiệp đã chỉ ra để lập bản thuyết minh báo cáo tài chính, phân tích tình hình, thực hiện dự toán chi phí và lập dự toán chi phí kỳ sau. b)Phân loại CP theo mục đích, công dụng chỉ phí và quản lý giá thành Theo cách phân loại này thì những chỉ phí có công dụng như nhau sẽ được xếp vào một yếu tố, bao gồm: Chỉ phí nguyên vật liệu trực tiếp là toàn bộ giá trị nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, vật liệu khác. được sử dụng trực tiếp sản xuất sản phẩm.
15 Chỉ phí nhân công trực tiếp là toàn bộ chỉ phí trả cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phâm như tiền lương, các khoản phụ cấp, các khoản BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ trích theo lương của công nhân trực tiếp sản xuất. Chỉ phí sản xuất chung là những khoản chỉ phí sản xuất liên quan đến việc phục vụ và quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng, tổ đội sản xuất bao gồm chỉ phí nhân viên phân xưởng, chi phí khấu hao TSCĐ, chỉ phí vật liệu, công cụ dụng cu, chi phi dich vụ mua ngoài. phục vụ cho sản xuất. Tùy theo đặc điểm, yêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp mà chỉ phí sản xuất cũng có thể được theo dõi chỉ tiết thành các khoản mục nhỏ hơn.
Đối với các doanh nghiệp sản xuất ra nhiều loại sản phâm thì chỉ phí sản xuất còn có thể được hạch toán theo từng khoản mục chỉ phí cho từng sản phâm. Cách phân loại này là cơ sở để doanh nghiệp quản lý chi phí theo định mức, tô chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phâm theo khoản mục. Ngoài ra, đây căn cứ để phân tích tình hình thực hiện kế hoạch và xây dựng định mức chỉ phí sản xuất cho kỳ sau. c) Phân loại CP theo mối quan hệ với khối lượng sản phẩm hoàn thành Đây là phương pháp phân loại chi phí được sử dụng nhiều trong kế toán quản tri chi phí sản xuất.
Mỗi yếu tố chi phí tham gia vào quá trình sản xuất với mức độ khác nhau, có yêu tố chủ yếu chiếm tỷ trọng lớn trong chỉ phí sản xuất sản phẩm, có yếu tố không chủ yếu chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng chỉ phí sản xuất đó. Theo cách phân loại này, chỉ phí sản xuất được chia thành: Chỉ phí biến đổi là những chỉ phí có sự thay đôi về lượng tương quan tỷ lệ thuận với sự thay đôi của khối lượng SP sản xuất trong kỳ. CP biến đổi cho một đơn vị sản phẩm lại không đổi như CP nhân công, CP nguyên vật liệu,. Chỉ phí có định là những chỉ phí không biến đổi khi mức độ hoạt động thay đổi, nhưng khi tính cho một đơn vị hoạt động thì chi phi nay lại thay đổi như chi phí thuê nhà xưởng, lương của ban quản lý.
16 Chỉ phí hỗn hợp là những chi phí gồm các yếu tố của chỉ phí có định và chi phí biến đổi. Trong một giới hạn nhất định nó là chi phí cố định nhưng vượt qua giới hạn đó nó trở thành chi phí biến đôi (như CP điện thoại, fax,. Việc phân loại chi phí theo tiêu thức này có ý nghĩa quan trọng trong quá trình quản lý chỉ phí sản xuất tại doanh nghiệp, là cơ sở thiết kế và xây dựng mô hình chỉ phí trong mối quan hệ giữa chỉ phí - khối lượng - lợi nhuận, dùng để phân tích điểm hòa vốn và đưa ra các quyết định quan trọng trong kinh doanh. Ngoài ra, cách phân loại này còn giúp các nhà quản trị xác định đúng đắn phương hướng sử dụng và nâng cao hiệu quả của các loại chỉ phí.
d) Phân loại CP nhằm phục vụ cho việc ra quyết định Theo quan điểm này, chỉ phí bao gồm: Chỉ phí chênh lệch là những khoản chi phí có ở phương án này nhưng chỉ có một phần hoặc không có ở phương án khác.