CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1.1 Những vấn đề chung về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất 1.1 Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất 1.1 Khái niệm chi phí sản xuất Theo CMKT Việt Nam số 01 – “Chuẩn mực chung”: “Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm các khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”. [1, đoạn 31] Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu kế toán CPSX và GTSP trong DNSX, do vậy tác giả sẽ chỉ đi sâu vào tìm hiểu về CPSX. CPSX có tính cá biệt cao, thường chiếm một tỷ trọng lớn trên tổng chi phí trong suốt quá trình hoạt động SXKD của các DNSX.“Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về CPSX tùy theo từng góc độ nhìn nhận của các nhà kinh tế học, cụ thể như sau:” Theo GS.TS Ngô Thế Chi và PGS.TS Trương Thị Thủy (2013): “Chi phí sản xuất là toàn bộ hao phí về lao động sống, lao đông vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến việc chế tạo sản phẩm, lao vụ, dịch vụ nhất định được biểu hiện bằng tiền” [3, tr. Đặng Thị Hòa (2014): “Chi phí sản xuất là những khoản chi phí phát sinh tại các phân xưởng (bộ phận) sản xuất gắn liền với các hoạt động sản xuất chế tạo sản phẩm của Doanh nghiệp” [4, tr.34] Theo quan điểm của KTTC, CPSX là những khoản phí tổn đã phát sinh “ hoặc sẽ phát sinh mà DN phải bỏ ra để để mua các yếu tố đầu vào cần thiết cho quá trình SX nhằm đạt được mục đích là tạo ra SP, hàng hóa, lao vụ ,dịch vụ nhất định liên quan đến kết quả của kỳ KD và được tính vào CPSX của kỳ này.
Những khoản 11 phí tổn này được định lượng và thể hiện dưới dạng một lượng tiền chi ra, các khoản tương đương tiền, hàng tồn kho, nguyên nhiên vật liệu, khấu hao máy móc thiết bị, một khoản nợ dịch vụ và để xác định được CP thì phải có chứng từ, hóa đơn, bằng chứng chứng minh chắc chắn việc phát sinh của chúng. Xét về bản chất, CPSX là sự chuyển dịch vốn của DN vào đối tượng tính giá nhất định hay chính là vốn của DN bỏ vào quá trình SXSP.” Theo quan điểm của KTQT, CPSX còn được nhận thức dưới góc độ nhận diện thông tin: “Chi phí có thể là phí tổn thực tế đã chi ra trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày khi tổ chức thực hiện, kiểm tra, ra quyết định và cũng có thể là CP ước tính khi thực hiện dự án hay giá trị lợi ích mất đi khi lựa chọn phương án, hoạt động này mà bỏ qua cơ hội KD khác” “[8, tr. Theo đó CPSX có thể là phí tổn thực tế phát sinh trong hoạt động SX, được tổng hợp theo từng phân xưởng, từng trung tâm chi phí cũng như xác định giá trị hàng tồn kho trong từng khâu của quá trình SX. CPSX có thể là những phí tổn ước tính hoặc dự kiến trước để thực hiện một hoạt động SXKD.
CPSX có thể được tập hợp và phân loại theo định phí và biến phí, từ đó lập các phương trình dự toán CPSX ở các mức hoạt động khác nhau và phân tích mối quan hệ C-V-P nhằm phục vụ hữu ích cho việc ra quyết định KD ở các tình huống khác nhau. Như vậy, CPSX trong KTQT không phải gắn liền với một kỳ kế toán cụ thể nào mà nó được xem xét gắn liền với các phương án SX, các cơ hội KD, quyết định SXKD cụ thể, nhằm mục đích cung cấp thông tin thích hợp, kịp thời về CP để phục vụ cho việc ra quyết định của các nhà quản trị DN hơn là chú trọng chứng minh tính pháp lý CP thực tế phát sinh. Từ các quan điểm trên, có thể thấy nội dung của CPSX rất đa dạng và có ý nghĩa quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các DN. Bất kỳ một DNSX nào hoạt động trong nền kinh tế thị trường cũng đều mong muốn giảm CPSX, làm tăng lợi nhuận của DN, tăng tính cạnh tranh của hàng hóa và làm tăng lợi ích cho người tiêu dùng.
Vì vậy, nhu cầu thông tin CPSX luôn gia tăng cả về tốc độ, tính chính xác, đầy đủ, linh hoạt để quản trị CPSX phục vụ cho các quyết định SXKD hiệu quả.2 Phân loại chi phí sản xuất Hoạt động của DNSX thường phức tạp“hơn các loại hình DN khác, do chức năng của nó bao gồm cả SX, lưu thông và quản lý. Do vậy, chi phí trong DNSX cũng gồm nhiều loại có tính chất kinh tế khác nhau, mục đích và công dụng của chúng trong quá trình SX cũng khác nhau, yêu cầu và phương pháp quản lý các chi phí cũng khác nhau. Để thuận lợi cho công tác quản lý, hạch toán, kiểm tra, kiểm soát CPSX cũng như”việc ra quyết định SXKD thì cần thiết phải tiến hành “phân loại chi phí sản xuất”. “Tùy vào mục đích và yêu cầu của quản lý, CPSX được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau dưới hai góc độ là KTTC và KTQT.
Song các cách phân loại đều tồn tại, bổ sung cho nhau và”giữ vai trò nhất định trong quản lý SX và GTSP. Dưới góc độ KTTC, CPSX được phân loại theo các tiêu thức sau: a) Phân loại chi phí theo yếu tố: Theo cách phân loại này, yếu tố chi phí là các chi phí có cùng nội dung và tính chất kinh tế được sắp xếp vào cùng một loại. Theo quy định hiện hành của Việt Nam, toàn bộ chi phí được chia thành 7 yếu tố chi phí sau: - CP nguyên liệu, vật liệu:“bao gồm giá mua và các CP liên quan đến thu mua NVL chính, NVL phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ sử dụng vào”SX (không bao gồm giá trị nguyên liệu, vật liệu dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi); - CP nhiên liệu, động lực: như xăng, dầu… sử dụng vào quá trình SX trong kỳ (không bao gồm giá trị dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi); - CP nhân công: gồm toàn bộ các khoản CP về tiền lương, tiền công, phụ cấp mang tính chất lương… phải trả cho người lao động; - CP các khoản trích theo lương: bao gồm các chi phí trích vào lương theo tỷ lệ quy định (BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ) và tính vào chi phí của DN. - CP khấu hao TSCĐ: gồm tất cả số khấu hao TSCĐ phải trích trong kỳ dùng vào hoạt động SX của DN; - CP dịch vụ mua ngoài: gồm điện, nước, điện thoại, thuê nhà xưởng, quảng cáo… là toàn bộ các khoản CP về các loại dịch vụ mua ngoài, thuê ngoài phục vụ cho hoạt động SX trong kỳ của DN; 13 - CP bằng tiền khác: như chi tiếp khách, chi hội họp, công tác phí, thuế “ GTGT không được khấu trừ, thuế môn bài… là toàn bộ các CP bằng tiền phát sinh ngoài các CP nói trên dùng vào quá trình SX trong kỳ Nhận thấy, việc phân loại CPSX theo yếu tố cho biết kết cấu, tỷ trọng của từng loại yếu tố của CP để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện dự toán CPSX.
Đồng thời là căn cứ để lập Báo cáo CPSX theo yếu tố ở Thuyết minh BCTC, cung cấp thông tin để lập dự toán CPSX, lập kế hoạch cung ứng vật tư và tính toán nhu cầu vốn lưu động cho kỳ sau. Tuy nhiên cách phân loại này sẽ không xác định được cụ thể các CP phát sinh phục vụ cho SX và CP phục vụ cho việc xác định KQKD.” b) Phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục chi phí: Cách phân loại“này dựa trên nguyên tắc xem xét công dụng của CP và mức”phân bổ CP cho từng đối tượng. Theo tiêu thức phân loại này thì CPSX gồm 3 khoản mục: - CP NVL trực tiếp: là toàn bộ CP của những loại“NVL sử dụng trực tiếp trong quá trình SXSP, cấu thành nên thực thể của SP, có giá trị lớn và có thể xác định được một cách tách biệt rõ ràng và cụ thể từng SP. Ngoài CP NVL chính, CP NVLTT còn bao gồm CP NVL phụ (kể cả nhiên liệu),”bán thành phẩm mua ngoài sử dụng trực tiếp trong SXSP.
có tham gia vào việc cấu thành nên SP nhưng có giá trị nhỏ và không thể xác định được cụ thể, rõ ràng cho từng SP. - CP NCTT: gồm tất cả các CP về tiền lương, tiền công và các khoản trích theo lương”(BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ) theo tỷ lệ quy định của công nhân trực tiếp SXSP, cũng có thể được xác định rõ ràng cụ thể và tách biệt cho từng đơn vị SP nên được tính thẳng vào từng đơn vị SP. - CP SX chung: là những CP cần thiết khác để SXSP ở các phân xưởng, tổ SX và không thuộc hai khoản mục trên, được theo dõi chi tiết cho từng loại như: “ CP lao động gián tiếp, phục vụ quản lý SX; CP nguyên, nhiên liệu dùng cho máy móc thiết bị phục vụ SX; CP CCDC dùng cho SX; khấu hao TSCĐ dùng chung cho SXSP và quản lý phân xưởng; CP dịch vụ mua ngoài phục vụ SX như điện, nước, sửa chữa, bảo hiểm tài sản tại bộ phận SX; CP bằng tiền khác… Do đặc điểm CP 14 SXC không thể tính trực tiếp vào SP nên chúng sẽ được tính vào SP thông qua việc phân bổ theo các chỉ tiêu thích hợp. Nhận thấy, phân loại CPSX theo tiêu thức này có tác dụng phục vụ cho việc quản lý, theo dõi CPSX theo định mức của các DNSX trong thực tế.
Đồng thời, cung cấp số liệu cho công tác tính giá thành, xác định các chỉ tiêu lập các BCTC cho DN, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, làm tài liệu tham khảo để lập định mức CPSX và lập kế hoạch GTSP cho kỳ sau.” c) Phân loại chi phí theo phương pháp tập hợp chi phí và mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí: Theo cách phân loại này CPSX được chia làm 2 loại: - CP trực tiếp: là toàn bộ các khoản CP có thể xác định một cách riêng biệt, rõ ràng có liên quan trực tiếp đến việc“SX cho từng đối tượng chịu phí (từng loại SP, dịch vụ, lao vụ nhất định, đơn đặt hàng. CP trực tiếp được tính toán, xác định một cách trực tiếp cho các đối tượng chịu phí căn cứ vào số liệu, chứng từ gốc.