Luận văn Thạc sĩ Kinh tế: huy động tiền gửi tiết kiệm qua tổ tiết kiệm và

Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả huy động tiền gửi tiết kiệm qua tổ tiết kiệm và vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội Bến Tre.

Chuyên ngành

Tài chính - Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

94
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh huy động tiền gửi tiết kiệm qua Tổ TK VV Bến Tre

Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Kim Ngân (2019) cung cấp một cái nhìn sâu sắc về huy động tiền gửi tiết kiệm qua Tổ Tiết kiệm và Vay vốn (TK&VV) tại chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) tỉnh Bến Tre. Hoạt động này là một trụ cột quan trọng, không chỉ giúp NHCSXH tăng cường nguồn vốn tại chỗ mà còn tạo điều kiện cho người nghèo và các đối tượng chính sách hình thành thói quen tích lũy. Mô hình Tổ Tiết kiệm và Vay vốn được xem là "cánh tay nối dài" của NHCSXH, giúp đưa vốn tín dụng ưu đãi đến tận tay người dân tại các thôn, ấp. Cơ chế hoạt động này dựa trên sự ủy thác cho các tổ chức chính trị - xã hội như Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh và Đoàn Thanh niên. Thông qua mạng lưới huy động vốn này, các thành viên có thể gửi tiết kiệm một cách thuận tiện, an toàn ngay tại điểm giao dịch xã mà không cần di chuyển xa. Mục tiêu của việc huy động này không chỉ là tăng trưởng nguồn vốn cho ngân hàng mà còn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Nó giúp các hộ gia đình giảm bớt gánh nặng tài chính khi đến kỳ trả nợ, tạo ra một nguồn vốn tự có để phòng ngừa rủi ro và cải thiện đời sống. Việc phân tích cơ sở lý luận về huy động vốn cho thấy đây là một phương thức hiệu quả để tiếp cận và phục vụ nhóm khách hàng đặc thù, những người thường gặp khó khăn khi tiếp cận các dịch vụ tài chính truyền thống. Hoạt động này đóng góp trực tiếp vào mục tiêu xóa đói giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội tại địa phương.

1.1. Hiểu đúng về mô hình Tổ Tiết kiệm và Vay vốn TK VV

Tổ TK&VV là một tổ chức tự nguyện được thành lập bởi các thành viên trong cùng một cộng đồng dân cư, thường là thôn, ấp. Theo định nghĩa của NHCSXH, mục đích chính của Tổ là tập hợp các hộ nghèo và đối tượng chính sách có nhu cầu vay vốn để sản xuất, kinh doanh. Hoạt động của Tổ dựa trên nguyên tắc tương trợ, giám sát lẫn nhau trong việc sử dụng vốn vay và trả nợ. Mỗi Tổ TK&VV có một Ban quản lý do các thành viên bầu ra, chịu trách nhiệm điều hành và làm cầu nối với ngân hàng. Đây là một mô hình tổ tiết kiệm và vay vốn mang tính cộng đồng cao, giúp giảm chi phí giao dịch cho cả ngân hàng và người dân.

1.2. Cơ sở lý luận về hoạt động huy động vốn tại NHCSXH

Cơ sở lý luận về huy động vốn tại NHCSXH có những đặc điểm riêng biệt. Không giống như các ngân hàng thương mại, mục tiêu huy động vốn của NHCSXH gắn liền với sứ mệnh chính trị - xã hội. Việc huy động tiền gửi tiết kiệm qua Tổ TK&VV là một hình thức huy động vốn bền vững, giúp ngân hàng chủ động hơn về nguồn vốn thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách nhà nước. Nguyên tắc hoạt động dựa trên sự tự nguyện của tổ viên và quy ước chung của Tổ, với mức gửi linh hoạt, phù hợp với khả năng tài chính của người nghèo. Các dịch vụ tiền gửi tiết kiệm NHCSXH được thiết kế đơn giản, dễ tiếp cận, tạo niềm tin cho người dân.

1.3. Vai trò của nguồn vốn tín dụng chính sách tại Bến Tre

Nguồn vốn tín dụng chính sách đóng vai trò thiết yếu trong công cuộc xóa đói giảm nghèo tại Bến Tre. Nguồn vốn này cung cấp tín dụng cho người nghèo và các đối tượng yếu thế khác với lãi suất ưu đãi, thủ tục đơn giản và không yêu cầu tài sản thế chấp. Nhờ đó, hàng chục ngàn hộ gia đình đã có cơ hội đầu tư vào sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm và cải thiện thu nhập. Hoạt động huy động tiền gửi tại chỗ thông qua Tổ TK&VV giúp bổ sung và quay vòng nguồn vốn tín dụng ưu đãi này, làm cho chính sách tín dụng ngày càng bền vững và lan tỏa sâu rộng hơn trong cộng đồng.

II. Phân tích thực trạng huy động tiền gửi tại NHCSXH Bến Tre

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Ngân (2019) đã phân tích sâu sắc thực trạng huy động tiền gửi tại chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội Bến Tre trong giai đoạn 2014-2018. Số liệu cho thấy hoạt động này đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Tổng số tiền gửi tiết kiệm qua Tổ TK&VV tăng trưởng liên tục, từ 71.601 triệu đồng năm 2014 lên 156.601 triệu đồng năm 2018. Tuy nhiên, hiệu quả huy động vốn chưa đồng đều giữa các địa phương và các tổ chức Hội đoàn thể nhận ủy thác. Một số huyện và tổ chức Hội có tỷ lệ thành viên tham gia gửi tiết kiệm cao, trong khi nơi khác còn mang tính hình thức. Một trong những thách thức lớn là nhận thức của một bộ phận người dân về lợi ích của việc gửi tiết kiệm còn hạn chế. Họ xem đây là nghĩa vụ bắt buộc hơn là một hình thức tích lũy tự nguyện. Bên cạnh đó, vai trò của tổ trưởng tổ TK&VV đôi khi chưa được phát huy tối đa. Năng lực quản lý, kỹ năng vận động và sự nhiệt tình của Ban quản lý Tổ là nhân tố ảnh hưởng huy động vốn một cách trực tiếp. Nghiên cứu cũng chỉ ra những hạn chế trong công tác phối hợp giữa ngân hàng và các tổ chức Hội, dẫn đến việc giám sát và hỗ trợ hoạt động của Tổ TK&VV chưa thực sự chặt chẽ. Việc đánh giá hoạt động tổ TK&VV cần được thực hiện thường xuyên hơn để kịp thời phát hiện và khắc phục các yếu kém, từ đó nâng cao chất lượng huy động vốn tại chỗ.

2.1. Đánh giá hoạt động của Tổ TK VV giai đoạn 2014 2018

Trong giai đoạn 2014-2018, số lượng tổ viên tham gia gửi tiết kiệm qua Tổ TK&VV tại Bến Tre đã tăng lên đáng kể. Tuy nhiên, đánh giá hoạt động Tổ TK&VV cho thấy chất lượng hoạt động không đồng nhất. Mức gửi bình quân trên mỗi tổ viên vẫn còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng. Một số Tổ hoạt động rất hiệu quả, duy trì sinh hoạt đều đặn, công khai, minh bạch tài chính, tạo được niềm tin lớn cho thành viên. Ngược lại, nhiều Tổ còn hoạt động cầm chừng, chất lượng các buổi sinh hoạt chưa cao, chủ yếu chỉ tập trung vào việc thu lãi, thu tiết kiệm mà thiếu đi sự trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm làm ăn.

2.2. Các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả huy động

Luận văn đã xác định nhiều nhân tố ảnh hưởng huy động vốn. Về phía khách hàng, nhận thức, thu nhập và thói quen tiêu dùng là những yếu tố quyết định. Về phía Ban quản lý Tổ, năng lực, uy tín, kinh nghiệm và sự nhiệt tình của tổ trưởng có tác động rất lớn. Bên cạnh đó, các yếu tố thuộc về ngân hàng như chính sách lãi suất, sự đa dạng của sản phẩm tiết kiệm, và chất lượng phục vụ của cán bộ tín dụng cũng ảnh hưởng không nhỏ. Môi trường kinh tế - xã hội tại địa phương, đặc biệt là các điều kiện sản xuất nông nghiệp, cũng là một nhân tố quan trọng tác động đến khả năng tích lũy của người dân.

2.3. Hạn chế và thách thức trong công tác huy động vốn tại chỗ

Thách thức lớn nhất trong huy động vốn tại chỗ là làm thay đổi tư duy của người dân, để họ xem việc gửi tiết kiệm là một nhu cầu tự thân. Nhiều người vẫn còn tâm lý e ngại, chưa thực sự tin tưởng vào mô hình này. Hạn chế khác đến từ cơ chế hoa hồng cho Ban quản lý Tổ còn thấp, chưa đủ tạo động lực để họ cống hiến và làm việc hiệu quả. Ngoài ra, sự cạnh tranh từ các tổ chức tín dụng khác và các hình thức huy động vốn phi chính thức (hụi, họ) cũng là một rào cản không nhỏ đối với việc tăng trưởng tiền gửi dân cư tại NHCSXH.

III. Bí quyết nâng cao hiệu quả huy động tiền gửi qua Tổ TK VV

Để nâng cao hiệu quả huy động vốn, luận văn của Nguyễn Thị Kim Ngân đã đề xuất một hệ thống giải pháp huy động vốn toàn diện và khả thi. Trọng tâm của các giải pháp này là tập trung vào con người và quy trình. Trước hết, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục tài chính cho các thành viên. Phải làm cho họ hiểu rõ lợi ích "kép" của việc gửi tiết kiệm: vừa tích lũy cho bản thân, vừa tạo thêm nguồn vốn tín dụng chính sách để giúp đỡ những người khác trong cộng đồng. Thứ hai, cần chuẩn hóa và tối ưu hóa quy trình thu, nộp tiền gửi. Thủ tục phải đơn giản, minh bạch và thuận tiện nhất có thể. Ứng dụng công nghệ trong quản lý có thể giúp giảm thiểu sai sót và tăng cường niềm tin. Thứ ba, việc nâng cao chất lượng sinh hoạt Tổ là cực kỳ quan trọng. Các buổi sinh hoạt không nên chỉ là nơi thu tiền, mà phải trở thành diễn đàn để các thành viên chia sẻ kinh nghiệm sản xuất, cập nhật thông tin chính sách và được giải đáp thắc mắc. Một mô hình tổ tiết kiệm và vay vốn hoạt động hiệu quả sẽ tự khắc thu hút thành viên tham gia gửi tiền. Cuối cùng, NHCSXH Bến Tre cần nghiên cứu đa dạng hóa các sản phẩm tiết kiệm, có thể đưa ra các sản phẩm có kỳ hạn linh hoạt, lãi suất hấp dẫn hơn để khuyến khích tăng trưởng tiền gửi dân cư.

3.1. Giải pháp nâng cao việc tham gia gửi tiền của tổ viên

Để khuyến khích tổ viên tham gia, cần xây dựng quy ước gửi tiết kiệm rõ ràng, công bằng và được tất cả thành viên đồng thuận. Công tác tuyên truyền cần được thực hiện thường xuyên qua nhiều kênh: trong các buổi sinh hoạt Tổ, qua hệ thống loa đài của xã, và thông qua vai trò của các cán bộ Hội đoàn thể. Xây dựng các chương trình thi đua, khen thưởng cho các cá nhân và tập thể có thành tích tốt trong việc thực hành tiết kiệm cũng là một giải pháp huy động vốn hiệu quả. Cần nhấn mạnh rằng việc gửi tiền là tự nguyện và vì lợi ích của chính người gửi.

3.2. Cải tiến hoạt động giao dịch tiền gửi qua Tổ TK VV

Quy trình giao dịch cần được cải tiến để đảm bảo sự nhanh chóng và chính xác. Việc cấp biên lai thu tiền cần được thực hiện ngay tại thời điểm giao dịch. NHCSXH cần công khai số dư tài khoản tiết kiệm của từng thành viên tại các điểm giao dịch xã để đảm bảo tính minh bạch, giúp tổ viên dễ dàng đối chiếu và giám sát. Việc này giúp củng cố niềm tin và ngăn ngừa các rủi ro, sai sót trong hoạt động của Tổ TK&VV. Đồng thời, cần nghiên cứu các hình thức giao dịch linh hoạt hơn, đáp ứng nhu cầu đột xuất của người dân.

3.3. Tăng cường chất lượng sinh hoạt của Tổ Tiết kiệm và Vay vốn

Nội dung sinh hoạt Tổ cần được đổi mới. Ngoài các nội dung bắt buộc về tài chính, nên lồng ghép các hoạt động khác như tập huấn kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt, chia sẻ các mô hình kinh tế hiệu quả. Việc này sẽ làm cho các buổi sinh hoạt trở nên hấp dẫn và thiết thực hơn. Qua đó, các thành viên sẽ gắn kết hơn và nhận thấy giá trị thực sự khi tham gia Tổ. Chất lượng sinh hoạt tốt là nền tảng vững chắc để nâng cao hiệu quả huy động vốn một cách bền vững.

IV. Phương pháp phát huy vai trò Tổ trưởng trong huy động vốn

Tổ trưởng và Ban quản lý (BQL) Tổ TK&VV là nhân tố then chốt quyết định sự thành công của hoạt động huy động tiền gửi. Vai trò của tổ trưởng tổ TK&VV không chỉ dừng lại ở việc thu tiền và làm thủ tục, mà còn là người truyền cảm hứng, tạo dựng niềm tin và duy trì sự gắn kết trong cộng đồng. Do đó, các giải pháp huy động vốn cần tập trung vào việc nâng cao năng lực và tạo động lực cho đội ngũ này. NHCSXH Bến Tre và các tổ chức Hội đoàn thể cần thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho BQL Tổ. Nội dung tập huấn không chỉ về quy trình, nghiệp vụ ngân hàng mà còn cả kỹ năng giao tiếp, vận động quần chúng và giải quyết xung đột. Việc trang bị kiến thức và kỹ năng sẽ giúp họ tự tin và chuyên nghiệp hơn trong công việc. Bên cạnh đó, cần xây dựng một cơ chế đãi ngộ, khen thưởng xứng đáng. Mức hoa hồng, phụ cấp cần được điều chỉnh hợp lý để bù đắp công sức và thời gian họ bỏ ra. Việc vinh danh, khen thưởng kịp thời những Tổ trưởng xuất sắc sẽ tạo ra hiệu ứng lan tỏa tích cực, khuyến khích những người khác noi theo. Tăng cường cơ chế giám sát và hỗ trợ từ cấp trên cũng rất quan trọng, giúp BQL Tổ giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc trong quá trình hoạt động, đảm bảo hoạt động của tổ TK&VV đi đúng hướng và hiệu quả.

4.1. Nâng cao năng lực và kinh nghiệm cho Ban quản lý Tổ

Chất lượng của BQL Tổ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả huy động vốn. NHCSXH cần phối hợp với các Hội đoàn thể xây dựng chương trình đào tạo định kỳ, cập nhật các chính sách mới, hướng dẫn xử lý các tình huống phức tạp. Việc tổ chức các buổi giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm giữa các BQL Tổ giỏi và các Tổ còn yếu cũng là một cách học hỏi thực tế và hiệu quả. Một BQL có năng lực sẽ quản lý tài chính minh bạch, điều hành các cuộc họp dân chủ và giải quyết các vấn đề nội bộ một cách công bằng, từ đó tạo dựng được uy tín vững chắc.

4.2. Xây dựng cơ chế khuyến khích Ban quản lý Tổ hiệu quả

Động lực làm việc là yếu tố quan trọng. Cần xem xét lại mức phụ cấp, hoa hồng cho BQL Tổ dựa trên các chỉ tiêu cụ thể như tỷ lệ thành viên gửi tiết kiệm, số dư tiền gửi bình quân, và chất lượng tín dụng. Ngoài lợi ích vật chất, các hình thức khuyến khích tinh thần như giấy khen, biểu dương tại các hội nghị tổng kết là rất cần thiết. Một cơ chế khuyến khích rõ ràng và công bằng sẽ thúc đẩy BQL Tổ nỗ lực hơn nữa trong việc vận động tăng trưởng tiền gửi dân cư.

4.3. Tăng cường giám sát và hỗ trợ từ Hội đoàn thể cấp trên

Các tổ chức Hội đoàn thể nhận ủy thác (Hội Nông dân, Hội Phụ nữ,...) có trách nhiệm trực tiếp trong việc chỉ đạo, giám sát hoạt động của Tổ TK&VV. Cán bộ Hội cấp xã cần tham gia thường xuyên các buổi sinh hoạt Tổ để nắm bắt tình hình, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của thành viên và hỗ trợ BQL Tổ khi cần thiết. Sự giám sát chặt chẽ giúp ngăn ngừa tiêu cực, sai phạm, trong khi sự hỗ trợ kịp thời sẽ giúp các Tổ vượt qua khó khăn, hoạt động ổn định và phát triển.

V. Kết luận và kiến nghị tăng cường huy động vốn trong tương lai

Luận văn thạc sĩ về huy động tiền gửi tiết kiệm qua Tổ Tiết kiệm và Vay vốn tại NHCSXH Bến Tre đã khẳng định đây là một chủ trương đúng đắn, mang lại lợi ích thiết thực cho cả ngân hàng và người dân. Kết quả nghiên cứu cho thấy tiềm năng huy động vốn tại chỗ trong dân cư là rất lớn. Tuy nhiên, để khai thác hiệu quả tiềm năng này, cần có những bước đi chiến lược và đồng bộ. Các kiến nghị tăng cường huy động vốn tập trung vào ba nhóm chính. Thứ nhất, đối với Ngân hàng Chính sách xã hội Bến Tre, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, đa dạng hóa sản phẩm tiết kiệm và tăng cường ứng dụng công nghệ để quản lý hiệu quả hơn. Thứ hai, đối với các tổ chức Hội đoàn thể, cần nâng cao hơn nữa vai trò và trách nhiệm trong việc chỉ đạo, kiểm tra, giám sát hoạt động của các Tổ TK&VV. Thứ ba, đối với chính quyền địa phương, cần tạo điều kiện thuận lợi và phối hợp chặt chẽ với NHCSXH trong việc tuyên truyền chính sách tín dụng ưu đãi. Tương lai của hoạt động này phụ thuộc vào sự phối hợp nhịp nhàng của cả hệ thống chính trị. Việc thực hiện thành công các giải pháp huy động vốn được đề xuất sẽ không chỉ giúp NHCSXH Bến Tre tự chủ hơn về nguồn vốn mà còn góp phần quan trọng vào sự nghiệp giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới tại địa phương.

5.1. Đánh giá tổng quan kết quả đạt được trong huy động vốn

Nhìn chung, hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm qua Tổ TK&VV tại Bến Tre đã đạt được những thành tựu quan trọng. Nó đã hình thành một mạng lưới huy động vốn rộng khắp, tạo thói quen tiết kiệm cho hàng chục ngàn hộ dân, và bổ sung một nguồn vốn đáng kể cho hoạt động tín dụng chính sách. Hiệu quả huy động vốn được thể hiện qua sự tăng trưởng liên tục về số dư tiền gửi và tỷ lệ thành viên tham gia. Đây là nền tảng vững chắc để tiếp tục phát triển hoạt động này trong những năm tiếp theo.

5.2. Các kiến nghị then chốt cho NHCSXH và các bên liên quan

Luận văn đưa ra các kiến nghị tăng cường huy động vốn cụ thể: (1) NHCSXH cần xây dựng chiến lược huy động vốn dài hạn, gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. (2) Nâng mức hoa hồng cho BQL Tổ để tạo động lực. (3) Các tổ chức Hội đoàn thể cần đưa chỉ tiêu huy động tiết kiệm vào chương trình công tác hàng năm. (4) Tăng cường truyền thông về ý nghĩa nhân văn của việc gửi tiết kiệm tại NHCSXH. Những kiến nghị này đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt và đồng bộ từ nhiều phía để tạo ra sự chuyển biến thực sự.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

13/10/2025
Luận văn thạc sĩ huy động tiền gửi tiết kiệm qua tổ tiết kiệm và vay vốn tại chi nhánh ngân hàng chính sách xã hội tỉnh bến tre

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TIẾT KIỆM QUA TỔ TIẾT KIỆM VÀ VAY VỐN CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1.1 Tổng quan về Tổ tiết kiệm và vay vốn 1.1 Khái niệm Tổ tiết kiệm và vay vốn Cho đến nay, với mỗi tổ chức tài chính có khái niệm khác nhau về Tổ TK&VV như: Khái niệm của Grameen Bank (GB): Theo Grameem, Tổ TK&VV là một tổ chức gồm những người nghèo, sống trong cùng một khu vực dân cư hoặc một làng xã, có hoàn cảnh kinh tế gần giống nhau để cung cấp dịch vụ tiết kiệm và cho vay theo những quy định mang tính chất bắt buộc về tài chính, cũng như một số quy định khác của ngân hàng và những nguyên tắc xã hội khác. Khái niệm Self-help group (SHG): Theo SHG, Tổ TK&VV là một nhóm tự quản được thành lập bao gồm các cá nhân có điều kiệm kinh tế đồng nhất trên tinh thần tự nguyện đến với nhau để thường xuyên tiết kiệm một khoản tiền nhỏ vào quỹ chung và tìm kiếm các nguồn tài trợ khác. để cung cấp các dịch vụ tài chính và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe khác cho các thành viên theo quy định của pháp luật. Khái niệm chính thức của NHCSXH: Theo NHCSXH, Tổ TK&VV là tổ chức do các tổ chức CT -XH hoặc cộng đồng dân cư tự nguyện thành lập trên địa bàn hành chính của xã và được UBND cấp xã công nhận bằng văn bản.

Như vậy, Tổ TK&VV là một tổ chức được thành lập trên một địa bàn hành chính (thôn, khu phố, bản, làng.), do các tổ chức CT - XH hoặc cộng đồng dân cư tự nguyện thành lập và bao gồm một nhóm người tự nguyện tham gia để cùng nhau TK&VV. Tổ TK&VV tạo điều kiện cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác tiếp cận, làm quen và sử dụng các dịch vụ tài chính khác. Tổ hoạt động trên tinh thần tương trợ lẫn nhau, theo quy chế hoạt động của Tổ TK&VV, quy định của NHCSXH và qui định khác của cơ quan có thẩm quyền.2 Mục đích thành lập Tổ tiết kiệm và vay vốn Đối với GB (Grameen Bank) Bangladesh Thành lập nhóm TK&VV nhằm tập hợp những người nghèo, sống trong cùng một khu vực dân cư hoặc cùng một làng xã, đa phần là phụ nữ, có hoàn cảnh kinh tế gần giống nhau. Bắt đầu bằng cách tổng hợp các khoản tiết kiệm của các thành viên và sau đó sử dụng các khoản tiết kiệm cho vay đối với các thành viên.

Ngoài việc mỗi nhóm phải tuân theo những quy định bắt buộc về tài chính, cũng như một số các quy định khác của ngân hàng, bản thân từng nhóm cũng tự tuân thủ những nguyên tắc xã hội khác. Những quy định đó bao gồm: gia đình sinh ít con, trẻ em đều phải được đến trường, gia đình đoàn kết, các thành viên tương trợ lẫn nhau.Mặc dù có những quy định như vậy, nhưng GB vẫn được biết đến với mô hình ngân hàng cho vay dựa trên sự tin cậy, tin tưởng của ngân hàng đối với các khách hàng của mình (Lê Văn Luyện-Nguyễn Đức Hải, 2013). Đối với SHG (Self-help group) Ấn Độ Thành lập nhóm tự quản từ đa phần là phụ nữ, để thường xuyên tiết kiệm một khoản tiền nhỏ vào quỹ chung. Ngoài ra SHG cũng có sự khác biệt ở chỗ còn tự tìm kiếm các nguồn tài trợ từ các ngân hàng thương mại, các nguồn vốn của các tổ chức quốc tế, tài trợ của chính phủ.SHG cùng với việc cung cấp các dịch vụ tài chính còn cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe như tiêm vắc xin, thông tin về kế hoạch hóa gia đình, các cơ hội về tìm kiếm việc làm, tạo thu nhập.Việc cung cấp các dịch vụ đi kèm này cũng một phần là do quy định pháp luật ở quốc gia này, theo đó các nhà cung cấp tài chính vi mô buộc phải mở rộng lĩnh vực dịch vụ ngoài tài chính mà mình cung cấp (Lê Văn Luyện-Nguyễn Đức Hải, 2013).

Đối với NHCSXH Việt Nam Thành lập Tổ TK&VV nhằm tập hợp hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác có nhu cầu vay vốn NHCSXH để sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; cùng tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất, kinh doanh và đời sống; cùng giám sát nhau trong việc vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ ngân hàng. Các tổ viên trong Tổ TK&VV giúp đỡ nhau từng bước có thói quen 8 thực hành tiết kiệm để tạo lập nguồn vốn tự có và quen dần với sản xuất hàng hóa, hoạt động tín dụng tài chính. Tạo điều kiện thuận lợi cho tổ viên trong việc vay vốn và trả nợ ngân hàng (NHCSXH, 2013) 1.3 Cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động của Tổ tiết kiệm và vay vốn 1.1 Cơ cấu tổ chức của Tổ tiết kiệm và vay vốn Số lượng thành viên của Tổ TK&VV: Mỗi tổ chức quy định số lượng thành viên khác nhau tối thiểu từ 5 và tối đa là 60 thành viên (đối với GB là 5 thành viên, đối với SHG là 10 đến 20 thành viên, đối với NHCSXH từ 5 đến 60 thành viên). Thông thường các Tổ TK&VV cần có từ 15-25 thành viên, số lượng thành viên này phù hợp để cân bằng giữa việc đảm bảo lượng vốn đóng góp chung và việc giữ các cuộc họp trong tầm kiểm soát (NHCSXH, 2013) Số lượng thành viên trên một Tổ TK&VV có sự khác nhau giữa các tổ chức.

Đối với tổ có số lượng thành viên ít thì việc theo dõi, quản lý đơn giản hơn đối với tổ có số lượng thành viên nhiều, tuy nhiên nếu tổ quản lý số thành viên ít thì dư nợ thấp thì thu nhập của Ban quản lý Tổ TK&VV từ hoa hồng, thù lao thấp không đủ bù đắp công sức bỏ ra từ đó không khuyến khích BQL tổ gắn bó lâu dài. Bên cạnh đó, nếu số lượng thành viên nhiều mà mỗi tổ lại ít thành viên thì phải thành lập nhiều tổ dẫn đến công tác quản lý của ngân hàng cũng khó khăn và tốn kém hơn. Do đó số lượng thành viên trên mỗi Tổ TK&VV nhiều hay ít phụ thuộc vào khả năng, năng lực quản lý của BQL tổ và quy định của mỗi tổ chức tài chính. Ban quản lý Tổ TK&VV: điều hành và quản lý Tổ TK&VV là BQL tổ, BQL tổ do tổ viên bầu ra.

Số lượng thành viên BQL tổ là theo quy định của NHCSXH là 2 thành viên và quy định cán bộ ban thường vụ hội trực tiếp quản lý không được tham gia BQL tổ (NHCSXH, 2013), còn đối với các tổ chưc tài chính khác là từ 3 đến 5 thành viên và quy định những thành viên đang làm việc cho các cơ quan công quyền không được ứng cử vào BQL tổ, điều này nhằm tách bạch công tác quản lý, giám sát đối với BQL Tổ TK&VV (Lê Văn Luyện-Nguyễn Đức Hải, 2013).2 Cơ chế hoạt động của Tổ tiết kiệm và vay vốn Theo NHCSXH, Tổ TK&VV hoạt động theo nguyên tác tập thể, biểu quyết theo đa số, cuộc họp của tổ khi có nội dung biểu quyết thì phải được ít nhất 2/3 số tổ viên dự họp và có ít nhất 2/3 số tổ viên có mặt tại cuộc họp biểu quyết tán thành mới có gia trị thực hiện gồm: kết nạp tổ viên, cho tổ viên ra khỏi tổ, nội dung quy ước hoạt động, bầu tổ trưởng, tổ phó, bình xét cho vay từng hộ. Nội dung cuộc họp tổ phải được lập thành biên bản và thông qua trước khi kết thúc cuộc họp. Trong đó hoạt động tiết kiệm của tổ là việc các tổ viên động viên nhau dành dụm trong chi tiêu để gửi vào ngân hàng để tạo lập nguồn vốn tích lũy trong tương lai.2 Hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm qua Tổ tiết kiệm và vay vốn của Ngân hàng Chính sách xã hội 1.1 Đối tượng huy động tiền gửi tiết kiệm qua Tổ tiết kiệm và vay vốn Đối với sản phẩm tiền gửi tiết kiệm chỉ áp dụng đối với tổ viên Tổ TK&VV, NHCSXH nhận tiền gửi của người nghèo, đối tượng chính sách là các thành viên của Tổ TK&VV. Tổ viên Tổ TK&VV được thành lập và hoạt động theo Quy chế về tổ chức và hoạt động của Tổ TK&VV (NHCSXH, 2013).

Các Tổ trưởng nhận tiền gửi từ các thành viên trong tổ, sau đó hàng tháng hoặc hàng quý nộp cho cán bộ NHCSXH tại Điểm giao dịch xã vào ngày giao dịch xã theo quy định.2 Nguyên tắc hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm qua Tổ tiết kiệm và vay vốn Mỗi tổ viên Tổ TK& VV gửi tiền tại NHCSXH được mở và sử dụng một tài khoản tiền gửi không kỳ hạn để thực hiện gửi tiền mặt thông qua BQL Tổ TK& VV theo Hợp đồng uỷ nhiệm giữa NHCSXH với BQL Tổ hoặc trực tiếp gửi tiền mặt tại Điểm giao dịch xã hoặc Trụ sở NHCSXH nơi mở tài khoản tiền gửi hoặc chuyển tiền đến để gửi vào tài khoản tiền gửi. Tổ viên Tổ TK& VV trực tiếp rút tiền mặt tại Điểm giao dịch xã hoặc tại Trụ sở NHCSXH nơi mở tài khoản tiền gửi hoặc đề nghị chuyển khoản thông qua BQL Tổ TK&VV hoặc trực tiếp chuyển khoản tại Điểm giao dịch xã hoặc tại Trụ sở 10 NHCSXH nơi mở tài khoản tiền gửi để trả nợ, trả lãi tiền vay của mình cho NHCSXH. Sau khi không còn nợ NHCSXH, tổ viên có thể rút tiền theo nhu cầu. Tiền gửi của tổ viên Tổ TK&VV được trả lãi theo lãi suất tiền gửi không kỳ hạn tại NHCSXH nơi nhận tiền gửi.

Lãi tiền gửi được tính và trả theo định kỳ hàng tháng.3 Đặc điểm của huy động tiền gửi tiết kiệm qua Tổ tiết kiệm và vay vốn Khả năng tiếp cận Tiền gửi tiết kiệm qua Tổ TK&VV có ưu điểm là chi phí giao dịch thấp. NHCSXH không tính phí bất kỳ khoản phí dịch vụ hoặc yêu cầu bất kỳ số dư tối thiểu nào đối với người gửi. Hơn nữa, dịch vụ ( gửi tiền và rút tiền) được thực hiện ngay gần nơi ở của khách hàng do đó hầu như khách hàng không phải tốn chi phí đi lại, nhất là đối với những vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa. Bên cạnh đó, bằng cách ủy nhiệm nhận tiền gửi cho các Tổ TK& VV, NHCSXH không cần nhiều nhân viên và cơ sở vật chất ở cấp địa phương.

Mạng lưới rộng lớn Trong số các ngân hàng tại Việt Nam, có thể nói rằng NHCSXH đã có mạng lưới rộng nhất và khả năng tiếp cận cao nhất đến các đối tượng khách hàng mục tiêu. NHCSXH có 63 chi nhánh cấp tỉnh và 629 phòng giao dịch cấp huyện, 10.917 điểm giao dịch xã và 192 nghìn Tổ TK&VV hoạt động tại các thôn, bản.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ