CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU Quảng Nam có nhiều tuyến đường giao thông quan trọng đi qua như quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, quốc lộ (14B, 14D, 14E), quốclộ 40B, quốclộ 24C và các tỉnh lộ 604, 604, 607, 609, 610, 611, 614, 615, 616, 617, 618 (mới và cũ), 620. Đây là những tuyến giao thông quan trọng, có ý nghĩa chiến lược trong tất cả các lĩnh vực của đất nước, khu vực miền Trung nói chung và tỉnh Quảng Nam nói riêng. Tại Quảng Nam, trong những mùa mưa lớn kéo dài những năm gần đây thường gây trượt lở, trên tuyến đường Hồ Chí Minh qua Quảng Nam xảy ra gần 100 điểm trượt.
Đoạn qua huyện Tây Giang có 60 điểm trượt lở nặng với tổng khối lượng đất đá 15.000m3; đoạn qua huyện Đông Giang có trên 30 điểm bị trượt lở nặng, với tổng khối lượng đất đá gần 12.000m 3, trên tuyến quốc lộ 40B, tại Km96+800, Km97+680, thuộc địa phận huyện Nam Trà My, gần 144.000 m 3 đất trượt lở, tràn xuống nền đường, gây ách tắc giao thông trên toàn tuyến cắt đường gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông cũng như gây ách tắc ngừng trệ giao thông nghiêm trọng. Đây là hai tuyến đường giao thông huyết mạch nối với các tỉnh Tây Nguyên, trước nguy cơ tai biến trượt lở diễn ra ngày càng phức tạp, tác động trực tiếp đến tình hình phát triển kinh tế xã hội và thậm chí đến cả tính mạng của con người khi tham gia giao thông, việc nghiên cứu chi tiết về tai biến trượt lở, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến trượt lở và đưa ra được những giải pháp thích hợp cho tuyến đường giao thông Quốc lộ là rất cần thiết và cấp bách. Vị trí nghiên cứu Quốc lộ 40B dài 209,1 km nối liền tỉnh Quảng Nam và tỉnh Kon Tum, xuất phát từ xã Tam Thanh (Thành phố Tam Kỳ, Quảng Nam), giao với đường ven biển, đi dọc theo đường tuyến Đường Tỉnh 616 (Quảng Nam), Đường Tỉnh 672 (Kon Tum), kết thúc tại Km1506 trên đường Hồ Chí Minh thuộc địa phận thị trấn Đắc Tô, huyện Ngọc Hồi (tỉnh Kon Tum). Tuyến đường Quốc lộ 40B được nâng cấp từ đường tỉnh lộ Đường Tỉnh 616 (hay đường Nam Quảng Nam cũ) theo quyết định số 2825/QĐ-BGTVT của Bộ giao thông vận tải, ký ngày 16/09/2013.
Tuyến đường Quốc lộ 40B mở rộng giao thông liên vùng giữa các vùng trọng điểm kinh tế, kết nối cảng biển Kỳ Hà (Quảng Nam) với cửa khẩu quốc tế Bờ Y (Kon Tum), mở ra rất nhiều thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội cho khu vực miền Trung – Tây Nguyên. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đường Hồ Chí Minh (đoạn qua Quảng Nam) Điểm đầu tại A Tép ranh giới giữa tỉnh Thừa Thiên Huế và tỉnh Quảng Nam, Điểm cuối tại cầu Đắc Zôn ranh giới giữa tỉnh Quảng Nam và tỉnh Kon Tum, dài 200km Đường Hồ Chí Minh tiêu chuẩn đường cấp IV miền núi với bề rộng nền đường 7,5 m, mặt đường 5,5 m kết cấu bê tông nhựa. Đoạn qua thị trấn, thị tứ có mặt cắt 22,5 m. Khu vực nghiên cứu tập trung dọc theo Quốc lộ 40B và đường Hồ Chí Minh đoạn qua Quảng Nam, đi qua thành phố Tam Kỳ và các huyện Phú Ninh, Tiên Phước, Bắc Trà My, Nam Trà My, Tây Giang, Đông Giang, Nam Giang và Phước Sơn.
Vị trí các điểm trượt lở dọc hai tuyến đường (Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Nam) 1. Điều kiện tự nhiên 1. Đặc điểm địa hình Trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, địa hình phân dị rất phức tạp, gồm cả địa hình núi, đồi, đồng bằng thung lũng sông và đồng bằng ven biển. Chúng phát triển trên các thành tạo móng cấu trúc Proterozoi, Paleozoi và Mezozoi [2, 10, 18].
Các kiểu 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com địa hình phân bố phản ánh những đặc trưng của cấu trúc tân kiến tạo và hiện đại khu vực. Núi trung bình bóc mòn - xâm thực phát triển trên cấu trúc nâng uốn nếp khối tảng địa lũy trong Tân kiến tạo phân bố dọc theo biên giới Việt - Lào, thuộc địa phận các huyện Tây Giang, Đông Giang, Nam Giang và Phước Sơn. Các dẫy núi chạy dài theo phương á kinh tuyến, cao trung bình từ 1600 - 1800m. Chúng phát triển trên móng uốn nếp Paleozoi, do quá trình nâng lên tạo núi uốn nếp khối tảng dạng địa lỹ trong giai đoạn Tân kiến tạo.
Địa hình bị phân cắt mạnh mẽ có dạng tuyến, hình thành các mái dốc trên 45 0. Hình thái sườn thẳng, thuận lợi cho các quá trình bóc mòn, xâm thực, trượt lở đ. Mật độ chia cắt sâu lớn, trung bình 100m/km2, mật độ chia cắt ngang >1,45 km/km2. Núi trung bình - thấp bóc mòn - xâm thực phát triển trên cấu trúc nâng uốn nếp khối tảng dạng địa lũy trong giai đoạn Tân kiến tạo phân bố chủ yếu trên địa bàn các huyện Đông Giang, Bắc Trà My và Nam Trà My.
Kiểu địa hình này phát triển trên móng uốn nếp Paleozoi bị nâng lên tạo núi uốn nếp khối tảng dạng địa lũy trong giai đoạn Tân kiến tạo, gồm các dãy núi chạy theo phương á vỹ tuyến, cao trung bình từ 1000-1200m. Mật độ chia cắt sât đạt >150m/km 2, mật độ chia cắt ngang đạt >2,18 km/km2. Các quá trình sườn phát triển, phổ biến là bóc mòn, xâm thực, trượt lở đất. Núi thấp bóc mòn - xâm thực phát triển trên cấu trúc uốn nếp vòm khối tảng trong giai đoạn Tân kiến tạo phân bố ở địa phận các huyện Nam Giang, Tiên Phước.
Kiểu địa hình này phát triển trên móng uốn nếp Mezozoi bị nâng lên uốn nếp dạng vòm khối tảng trong giai đoạn Tân kiến tạo, gồm các dẫy núi phát triển theo phương á vĩ tuyến và ĐB-TN, cao trung bình từ 700 - 1000m. Mật độ chia cắt sâu từ >100 m/km2 và mật độ chia cắt ngang từ >0,7 km/km 2. Các quá trình sườn phát triển: bóc mòn, xâm thực, tích tụ, trượt lở đất. Đồi, núi thấp bóc mòn - xâm thực phát triển trên cấu trúc uốn nếp khối tảng trong giai đoạn Tân kiến tạo phân bố ở các huyện Đại Lộc, Duy Xuyên, Hiệp Đức, Quế Sơn, Tiên Phước và Phú Ninh.
Chúng phát triển trên cấu trúc móng uốn nếp Mezozoi bị nâng yếu dạng uốn nếp khối tầng trong Tân kiến tạo, gồm các dẫy núi thấp, đồi phát triển theo phương ĐB-TN và á vĩ tuyến, cao trung bình từ 200 - 600m. Mật độ chia cắt sâu từ 50 - 100 m/km 2 và mật độ chia cắt ngang đạt >0,7 km/km2. Các quá trình sườn phát triển: bóc mòn, xâm thực, rửa trôi bề mặt và tích tụ. Đồi bóc mòn - tích tụ phát triển trên cấu trúc nâng yếu uốn nếp khối tảng trong giai đoạn Tân kiến tạo, phân bố trên địa bàn các huyện Quế Sơn, Phú Ninh, Núi Thành, Tiên Phước và thành phố Tam Kỳ.
Chúng phát triển trên móng uốn nếp bị nâng lên yếu dạng uốn nếp khối tảng trong giai đoạn Tân kiến 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tạo, gồm các dẫy đồi phát triển theo phương á vĩ tuyến, cao trung bình từ 100-300m. Mật độ chia cắt sâu đạt <25 m/km 2 và mật độ chia cắt ngang đạt >0,7 km/km 2. Các quá trình sườn phát triển: xâm thực, rửa trôi bề mặt và tích tụ. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Quảng Nam còn phân bố các dạng địa hình có nguồn gốc xâm thực và kiến tạo.
Các dạng địa hình kiến tạo như: các "phaset" kiến tạo, sườn kiến tạo, các vách, bậc kiến tạo và đoạn thung lũng kiến tạo phân bố chủ yếu dọc theo các thung lũng sông Pô Cô, Bung, Vu Gia, Côn, Tranh, Đắc My; các đoạn thung lũng thẳng phát triển dọc theo đứt gẫy. Dạng địa hình ngoại sinh như: các thung lũng treo phân bố ở dọc sườn đông nam các dẫy núi ở Quế Sơn, các dấu tích mặt sang bằng Miocen giữa, Miocen muộn, Pliocen muộn… còn tồn tại trên các bậc độ cao 1500-1800m, 900-1000m, 300-500m, 100-200m [3, 6, 7, 19, 20]. Đặc điểm cấu trúc địa chất. Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng có cấu tạo địa chất phân dị phức tạp.
Đây là vùng bị phá hủy mạnh mẽ, rồi xây dựng lại qua nhiều thời kỳ địa chất khác nhau. Các thành tạo địa chất lộ ra ở trên địa bàn có tuổi từ Protezoizoi đến Kainozoi [13, 14, 19, 20, 22]. a) Địa tầng Hệ tầng Khâm Đức (NP kđ) bao gồm chủ yếu là các đá biến chất, phân bố rộng rãi trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Chúng tạo thành dải kéo dài từ Phước Sơn qua Tiên Phước đến Phú Ninh.
Thành phần thạch học gồm phiến muscovit, phiến biotit, phiến amphibol, phiến thạch anh - plagioclas - biotit, gneis biotit, phiến 2 mica - graphit, gneis biotit - granat. Chiều dày chung của hệ tầng từ 5000 - 5800m. Hệ tầng Núi Vú (NP-1 nv) phân bố thành dải có phương á vỹ tuyến, từ Phước Sơn, Bắc Trà My đến Tiên Phước. Thành phần thạch học gồm: phiến plagioclas- amphibol, phiến thạch anh-mica, phiến thạch anh-sericit, phiến silic.
Chiều dày của hệ tầng Núi Vú từ 1200 - 1600m. Hệ tầng A Vương ( 2-O1 av) phân bố thành những dải chạy theo phương á vỹ tuyến từ Tây Giang đến Đông Giang và từ Tây Giang đến Phước Sơn. Thành phần thạch học gồm: phiến sericit - thạch anh, phiến sét đen, cuội kết, cát kết quarzit, silic, đá hoa dạng khối, đá hoa dạng sọc dải, phiến sericit, carbonat xen lớp mỏng cát kết quarzit. Bề dày chung của hệ tầng 3100m.
Hệ tầng Long Đại (O1-S lđ) phân bố chủ yếu ở địa bàn huyện Tây Giang. Thành phần thạch học gồm: cát kết xen kẽ bột kết, phiến sét, các lớp mỏng hoặc thấu kính phun trào axit bị biến chất, phiến sét, bột kết. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hệ tầng Tân Lâm (D1-2 tl) phân bố ở BHa Lêê và A Tép (huyện Tây Giang). Thành phần thạch học gồm cát kết ít khoáng, cát kết quarzit, cát bột kết, phiến sét, thấu kính cuội sạn kết và cuội kết.
Chiều dày từ 700 - 750m. Hệ tầng Sông Bung (T1 sb) lộ ra ở khu vực ngã ba sông Bung và sông A Vương, trên địa bàn huyện Tây Giang, phía tây huyện Nông Sơn và dọc biên giới Việt - Lào thuộc huyện Nam Giang. Thành phần thạch học gồm: cát kết, cát kết tuf, ryolit porphyr, cát kết xen bột kết, bột kết chứa vôi xen các lớp ryolit. Chiều dày của hệ tầng 1820m.
Hệ tầng Nông Sơn (T3n-r ns) phân bố ở huyện Nam Giang. Thành phần thạch học gồm: cuội kết xen cát kết, bột kết, phiến sét và các lớp than. Chiều dày của hệ tầng từ 950 - 1000m. Các trầm tích Jura gồm hai hệ tầng: Khe Rèn có tuổi Jura sớm và hệ tầng Hữu Chánh có tuổi Jura giữa.