MỞ ĐẦU Việt Nam là đất nước nhiệt đới, là một trong những trung tâm đa dạng sinh học quan trọng của thế giới và cũng là nước có tài nguyên rừng nhiệt đới giàu có cả về diện tích và cả về chất lượng, đặc biệt là nguồn tài nguyên phi gỗ. Nguồn tài nguyên phi gỗ đã và đang là một nguồn thu nhập của cộng đồng dân cư miền núi ở hầu hết các nước nhiệt đới. Chính vậy, nguồn tài nguyên này hiện được coi là một phần thu nhập kết hợp không thể thiếu trong chiến lược phát triển bền vững quốc gia, trong các chương trình bảo tồn tài nguyên và môi trường, chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học và các chiến lược phát triển kinh tế xã hội khác của các nước nhiệt đới. Đối với con người, tài nguyên phi gỗ được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau như là nguồn lương thực bổ trợ (củ quả giàu tinh bột như củ Mài, củ Nâu, ruột cây Búng bang,cây Đoác,.), các loại thực phẩm (thịt động vật hoang dã, rau rừng, các loài gia vị,.) và các loài cây con dược liệu, làm thuốc chữa bệnh.
Ngoài các giá trị kinh tế trực tiếp kể trên, tài nguyên phi gỗ còn có tiềm năng lớn đối với việc bảo tồn các hệ sinh thái rừng nhiệt đới thông qua việc góp phần làm tăng tính đa dạng loài, giảm năng lượng hao phí do chuyển dời của các loài khi đi tìm kiếm thức ăn, đảm bảo cân bằng sinh thái. Đặc biệt, tài nguyên phi gỗ là cơ sở để tạo nên nhiều cơ hội cho các hoạt động quản lý tài nguyên rừng có sự tham gia của cộng đồng. Việc nghiên cứu để tập hợp những giá trị tài nguyên phi gỗ đó là việc làm cần thiết vì đó là yêu cầu cấp thiết hiện nay đồng thời nó là kinh nghiệm quí báu đã được tích lũy từ ngàn đời nay. Xuất phát từ những lý do trên tôi chọn đề tài: “ Nghiên cứu nguồn tài nguyên phi gỗ của hệ thực vật tại Vƣờn Quốc Gia Cúc Phƣơng nhằm bảo tồn những tri thức bản địa và nguồn gen qúy.” 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mục tiêu: - Đánh giá hiện trạng nguồn tài nguyên phi gỗ gồm cây thuốc, cây ăn được cho người và thức ăn cho Vọoc mông trắng tại VQG Cúc Phương.
- Nghiên cứu những tri thức bản địa về nguồn tài nguyên phi gỗ (cây thuốc, cây ăn được cho người và thức ăn cho Vọoc mông trắng). - Đề xuất một số giải pháp bảo tồn 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu về tài nguyên phi gỗ Từ bao đời nay rừng mang lại cho con người nhiều nguồn tài nguyên quý giá, trong đó có nguồn tài nguyên phi gỗ. Nguồn tài nguyên này đã thể hiện vai trò quan trọng đối với đời sống, kinh tế, văn hóa và xã hội của người dân, trong đó thể hiện rõ nhất ở các vai trò làm thuốc, thức ăn cho người và thức ăn cho Vọoc mông trắng.
Tổng quan nghiên cứu cây đƣợc sử dụng làm thuốc Y học cổ đại đã hình thành ở Ấn Độ và Trung Quốc từ lâu đời. Trong sự phát triển của loài người, mỗi dân tộc mỗi quốc gia đều có những nền Y học cổ truyền riêng. Các kinh nghiệm dân gian được nghiên cứu ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào sự phát triển của quốc gia đó. Ở các nước Nga, Đức, Trung Quốc đã dùng cây Mã đề (Plantago major L.) sắc nước hoặc giã lá tươi đắp chữa trị vết thương, viêm tiết niệu, sỏi thận.
Ở Cuba, người ta đã dung bột papain lấy từ mủ cây Đu đủ ( Carca papaya L.) để kích thích tổ chức hạt ở các vết thương phát triển. Y học dân tộc của Bungari “ Đất nước của hoa hồng” đã coi hoa hồng là một vị thuốc chữa được nhiều bệnh, người ta dùng cả hoa, lá, rễ để làm thuốc tan huyết ứ và bệnh phù thũng. Ngày nay người ta đã chứng minh được trong cánh hoa hồng có chứa một lượng tanin, glucosid Nền y học Trung Quốc được xem là cái nôi của y học cổ truyền. Các bài thuốc được xem như hình thành từ rất sớm nhất từ đây.
Từ năm 3216 hoặc 3080 tr.CN Thần nông – một nhà được học tài năng đã chú ý tìm hiểu tác động của cây cỏ đến sức khỏe của con người. Ông thử nghiệm tác dụng các loài cây thuốc trên chính bản thân bằng uống, nếm rồi ghi chép lại tất cả những hiểu biết đó vào cuốn sách “ Thần nông bản thảo” gồm 365 vị thuốc rất có giá trị. Vào thế kỷ thứ II nhân dân Trung Quốc đã biết dùng các loài cây cỏ để chữa bệnh như: Nước chè đặc,rễ cây cốt 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khí củ(Polygonum cuspidatum); vỏ rễ cây Táo tầu ( Zizyphus vulgarris)… để chữa vết thương; dùng các loài nhân sâm ( Panax) để phục hồi ngữ quan …. Trương Trọng Cảnh là vị thánh trong đông y vào thời Đông hán cách đây 1700 năm, ông nghiên cứu và viết “ Thương hàn tập bệnh luận” chỉ các dịch bệnh và bệnh về thời tiết nói chung và đề ra những cách chữa trị bằng thảo dược.
Trong cuốn sách “Cây thuốc Trung Quốc” xuất bản năm 1985 đã liệt kê một loạt các cây chữa bệnh như: Rễ gấc (Momordica cochinchinensis (Lour.) chữa nhọt độc, viêm tuyến hạch, hạt gấc trị sưng tấy đau khớp, sốt rét, vết thư+ơng tụ máu; Cải soong (Nasturtium officinale R.Br) giải nhiệt, chữa lở mồm, chảy máu chân răng, bướu cổ.CN) trong cuốn sách “Thủ hậu bị cấp phương” đã kê 52 đơn thuốc chữa bệnh từ cây cỏ. Vào thế kỷ XVI Lý thời Trần đã thống kê được 12.000 vị thuốc trong tập “ Bản thảo cương mục” xuất bản năm 1595. Trong chương trình điều tra cơ bản nguồn tài nguyên thiên nhiên ở khu vực Đông nam Á, Perry đã nghiên cứu hơn 1000 tài liệu khoa học về thực vật và dược liệu đã được công bố và được các nhà khoa học kiểm chứng (trong đó có 146 loài có tính kháng khuẩn) và tổng hợp thành cuốn sách về cây thuốc của vùng Đông và Đông nam Á “Medicinal Plants of East and Southeast Asia”. Nền Y học cổ truyền của Việt nam đã có từ lâu đời, nhiều bài thuốc, cây thuốc được áp dụng chữa bệnh trong dân gian có hiệu quả.
Qua quá trình phát triển của dân tộc, các kinh nghiệm dân gian quý báu đó đã dần đúc kết thành những cuốn sách có giá trị được gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của các danh y nổi tiếng và được lưu truyền rộng rãi trong nhân dân. Đời nhà Trần (1225-1399) có sự kiện, Phạm Ngũ Lão thừa lệnh Hưng Đạo Vương - Trần Quốc Tuấn, thu thập trồng một vườn thuốc lớn để chữa bệnh cho quân sỹ trên núi gọi là “ Sơn dược’ hiện vẫn còn di tích để lại tại một quả đồi thuộc xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, Tỉnh Hải Dương. Vào thế kỷ XIII có hai danh y nổi tiếng đó là Phạm Công Bân và thầy thuốc Tuệ Tĩnh, tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh, vào đầu thế kỷ XIV ông biên soạn bộ “ Nam 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dược thần hiệu” gồm 11 quyển với 496 vị thuốc nam, trong đó có 241 vị thuốc có nguồn gốc thực vật. Ngoài ra ông còn viết “Hồng nghĩa giác tư y thư” gồm 2 bài hán nôm phú , tóm tắt công dụng của 130 loài cây thuốc cùng 13 đơn thuốc và cách chữa trị 37 chứng sốt khác nhau [41] Tuệ Tĩnh được coi là một bậc danh y kỳ tài trong lịch sử Y học của nước ta, là “Vị thánh thuốc nam”, ông chủ trương lấy “ Nam dược trị nam nhân” trong bộ sách quý của ông sau này bị quân minh thu gần hết chỉ còn lại những tác phẩm như “ Nam dược thần hiệu”; “Tuệ Tĩnh Y thư”; “Thập tam phương gia giảm”; “ Thương hàn tam thập thất trùng pháp”[41] Thời Lê Dụ Tông xuất hiện Hải Thượng Lãn Ông tên thực là Lê Hữu Trác (1721-1792) Ông là người am hiểu nhiều về y học, sinh lý học, đọc nhiều sách thuốc.
Trong 10 năm khổ công tìm tòi nghiên cứu Ông viết bộ “Lãn ông tâm lĩnh” hay “ Y tôn tâm lĩnh” gồm 66 quyển đề cập đến nhiều vấn đề về y dược như: “Y huấn cách ngôn”, “Y lý thân nhân”, “Lý ngôn phụ chính”, “Y nghiệp thần chương” xuất bản năm 1772. Trong bộ sách này ngoài kế thừa “Nam dược thần hiệu của Tuệ Tĩnh Ông còn bổ sung thêm 329 vị thuốc mới. Mặt khác ông còn mở trường đào tạo y sinh truyền bá tư tưởng, hiểu biết của mình về y học do vậy ông còn được mệnh danh là ông tổ sáng lập ra nghề thuốc Việt Nam. [29] Dưới thời Pháp thuộc, việc nghiên cứu cay thuốc gặp nhiều khó khăn.
Một số tác giả người pháp như: Charles Crévost, Alfred Petelot, Charles Lematie, Perrol Hurrer đã xuất bản bộ “ Catalogue des produits de l’Indochine” (1928-1935) trong đó tập V (Produits medicanaux, 1928) đã mô tả 368 cây thuốc và vị thuốc các loài thực vật có hoa. Thời kỳ 1884-1945, thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân, loại Y học dân tộc của nước ta ra khỏi chính sách bảo hộ, việc nghiên cứu cây thuốc gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên có một số nhà thực vật học, dược học người pháp nghiên cứu với mục đích chính là khai thác tài nguyên tiêu biểu là: Crevot; Petelot. đã thống kê được 1482 vị thuôc sthảo mộc trên 3 nước Đông Dương [53].
Ngay sau khi đất nước được thống nhất, công tác điều tra nghiên cứu cây thuốc đã có nhiều thành tích đáng kể. Điển hình là công trình “Những cây thuốc và 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi (đã tái bản nhiều lần) giới thiệu 792 loài thực vật làm thuốc. Năm 2005 tái bản lần thứ 13 Trong đó ông đã mô tả tỉ mỉ tên khoa học, phân bố, công dụng, thành phần hoá học, chia tất cả các cây thuốc trong đó theo các nhóm bệnh khác nhau [27]. Đây là một bộ sách có giá trị lớn về khoa học và thực tiễn, kết hợp giữa khoa học dân gian với khoa học hiện đại.
Năm 1980 Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương đã giới thiệu 519 loài cây thuốc, trong đó có 150 loài mới phát hiện “Sổ tay cây thuốc Việt nam” [9] Đề cập đến cây thuốc trong hệ thực vật Việt Nam Võ Văn Chi là người đầu tiên có tâm huyết, năm 1976 trong luận án PTS khoa học của mình, ông đã thống kê có 1360 loài cây thuốc thuộc 192 họ trong ngành hạt kín ở miền Bắc.