Chương 1 – TỔNG QUAN 1. Qui trình công nghệ ngành dệt nhuộm [1, 2, 3] Ngành Dệt là ngành công nghiệp có dây chuyền công nghệ nhiều giai đoạn và sử dụng nhiều nguyên vật liệu cũng như hóa chất khác nhau, bao gồm các công đoạn: nhập nguyên liệu (kiện bông, sợi tổng hợp); làm sạch nguyên liệu; kéo sợi, đánh ống; hồ sợi dọc bằng hồ tinh bột, tinh bột biến tính hoặc polyvinylalcol (đối với sợi tổng hợp); tẩy vải, nhuộm vải bằng các loại thuốc nhuộm khác nhau (thuốc nhuộm hoạt tính, thuốc nhuộm trực tiếp, thuốc nhuộm hoàn nguyên, thuốc nhuộm phân tán …); làm bền màu và giặt; sấy khô, in hoa và hoàn thiện sản phẩm. * Làm sạch nguyên liệu, chải, kéo sợi, đánh ống, mắc sợi Nguyên liệu trong công nghệ dệt nhuộm chủ yếu là xơ bông, xơ nhân tạo để sản xuất các loại vải cotton và vải pha. Ngoài ra, còn sử dụng lông thú, đay gai, tơ tằm để sản xuất các mặt hàng tương ứng.
Nguyên liệu bông thô thường có lẫn các tạp chất tự nhiên như bụi, đất, cỏ rác… Do đó, nguyên liệu bông thô sẽ được đánh tung, làm sạch, trộn đều thành các tấm bông phẳng đều. Các sợi bông được chải song song và tạo thành các sợi thô. Sau đó, dùng các máy kéo sợi thô dể giảm kích thước và tăng độ bền của sợi. Máy quấn các ống sợi hoặc đánh thành các quả sợi và chuẩn bị công đoạn hồ sợi dọc.
* Hồ sợi dọc Hồ sợi bằng hồ tinh bột hoặc tinh bột biến tính để tạo màng hồ bao quanh sợi, tăng độ bền, độ bóng, độ trơn của sợi để tiến hành dệt vải. Ngoài ra, còn dùng các loại hồ nhân tạo như polivinylalcol (PVA), poliacrylat… * Dệt vải Kết hợp sợi ngang với sợi dọc đã mắc để hình thành tấm vải mộc. * Giũ hồ Tách các thành phần của hồ bám trên vải mộc bằng phương pháp enzim (1 % enzim, muối và các chất ngấm) hoặc axit (dung dịch axit sunfuric 0,5 %). Vải sau khi giũ hồ được giặt bằng nước, xà phòng, xút, chất ngấm rồi đưa sang nấu tẩy.
* Nấu tẩy Loại trừ phần hồ còn lại và các tạp chất thiên nhiên của xơ sợi như dầu, mỡ, sáp… Sau khi nấu, vải có độ mao dẫn và khả năng thấm ướt cao, hấp phụ hóa chất, 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thuốc nhuộm tốt, vải mềm mại và đẹp hơn. Vải được nấu trong dung dịch kiềm và các chất tẩy giặt ở áp suất cao (2 – 3 at) và ở nhiệt độ cao (120 – 1300C). Sau đó, vải được giặt nhiều lần. * Làm bóng vải Mục đích làm cho sợi cotton trương nở, làm tăng kích thước các mao quản giữa các mạch phân tử, làm cho sơ sợi trở nên xốp hơn, dễ thấm nước, sợi bóng hơn, tăng khả năng bắt màu thuốc nhuộm.
Làm bóng vải thông thường bằng dung dịch kiềm NaOH có nồng độ 280 – 300 g/l, ở nhiệt độ thấp 10 – 200C. Sau đó, vải được giặt nhiều lần. Đối với vải nhân tạo thì không cần làm bóng. * Tẩy trắng Mục đích làm cho vải sạch màu tự nhiên, sạch các vết dầu mỡ, bẩn, và chính là làm cho vải đạt độ trắng đúng yêu cầu.
Vải thường được tẩy bằng dung dịch clo, hypochrorit hoặc peroxit cùng với các chất phụ trợ khác để tạo môi trường và các chất hoạt động bề mặt. Tẩy trắng bằng peroxit tuy giá thành sản phẩm đắt nhưng không ảnh hưởng đến môi trường sinh thái. Nước thải chủ yếu chứa kiềm dư, các chất hoạt động bề mặt. Tẩy vải bằng các hợp chất chứa clo giá thành rẻ, nhưng sẽ làm tăng hàm lượng hợp chất halogen hữu cơ trong nước thải (thực chất đó là những hợp chất clo hữu cơ sinh ra từ phản ứng phụ trong quá trình tẩy).
Các chất này có khả năng gây ung thư ( như triclometan). * Nhuộm, in hoa Mục đích, tạo các màu sắc khác nhau của vải hoặc in các vân hoa một hoặc nhiều màu. Để nhuộm vải, người ta thường sử dụng chủ yếu các loại thuốc nhuộm tổng hợp cùng các hóa chất trợ nhuộm để tạo sự gắn màu của vải. Phần thuốc nhuộm dư không gắn vào vải, đi vào nước thải phụ thuộc vào nhiều yếu tố như công nghệ nhuộm, loại vải cần nhuộm, loại thuốc nhuộm, độ màu yêu cầu… Tỷ lệ màu gắn vào sợi nằm trong khoảng 50 – 98 %.
Thuốc nhuộm trong dung dịch nhuộm có thể ở dạng tan hoặc phân tán. Quá trình nhuộm xảy ra theo bốn bước: di chuyển các phần tử thuốc nhuộm đến bề mặt sợi; gắn màu vào bề mặt sợi; khuyếch tán màu vào trong sợi, quá trình này xảy ra chậm hơn so với quá trình trên; cố định màu vào sợi. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Để tăng hiệu quả quá trình nhuộm, các hóa chất được sử dụng như axit H2SO4, CH3COOH, các muối sunfat natri, muối amon, các chất cầm màu như syntephix, tinofix. Sau nhuộm và in, vải được giặt nóng, giặt lạnh nhiều lần.
Phần thuốc nhuộm không gắn vào vải và các hóa chất sẽ đi vào nước thải. * Văng khố, hoàn tất Mục đích ổn định kích thước vải, chống nhàu và ổn định nhiệt, trong đó sử dụng một số loại hóa chất chống màu, chất làm mềm và hóa chất như metylic, axit axetic, focmaldehit. Ô nhiễm môi trường của nước thải ngành dệt nhuộm ở Việt Nam 1. Thực trạng sử dụng hóa chất trong ngành dệt nhuộm Theo báo cáo tổng kết của Tổng Công ty Dệt may Việt Nam, khối lượng thuốc nhuộm sử dụng trong ngành được thống kê theo bảng 1.1 - Thực trạng xử dụng thuốc nhuộm toàn ngành Dệt may Việt Nam STT Tên thuốc nhuộm Lượng dùng (kg) Năm 1996 Năm 2000 Năm 2010 1 Hoàn nguyên 42.300 2 Hoàn nguyên tan 2.080 Từ số liệu bảng 1.1 ta thấy lượng thuốc nhuộm được sử dụng tăng lên rõ rệt.
Với sự gia tăng nhanh chóng lượng thuốc nhuộm như vậy, vấn đề ô nhiễm nước thải ngành dệt nhuộm đang bức xúc hiện nay sẽ trở nên ngày càng trầm trọng hơn nếu không có biện pháp giảm thiểu ô nhiễm và xử lý thích hợp. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong công nghiệp xử lý hóa học vật liệu dệt, bên cạnh thuốc nhuộm, các hóa chất và chất trợ được sử dụng rất nhiều. Mức độ gây ô nhiễm và độc hại của nước thải dệt nhuộm tùy thuộc vào chủng loại, số lượng và công nghệ được áp dụng. Có thể phân chia các chất đó thành 3 nhóm chính sau [12].
- Nhóm các chất độc đối với vi sinh vật và cá bao gồm: + NaOH và Na2CO3; dùng nấu vải sợi bông, xử lý trước sợi vải pha, làm bóng và dùng giảm trọng + NaClO, NaClO2: dùng tẩy trắng vải, sợi bông, vải dệt kim bông và giặt mài quần áo bò + H2SO4: dùng hiện màu thuốc nhuộm hoàn nguyên tan (inđigosol) + Na2S, Na2S2O4: dùng để nhuộm thuốc nhuộm lưu huỳnh và nhuộm hoàn nguyên không tan + Dung môi hữu cơ clo hóa (các chất tải): dùng nhuộm polieste hay nhuộm vải pha polietylen + Dẫn xuất phenol và điphenol + HCHO: trong các chất cầm màu, xử lý chống màu, trong in pigment + K2Cr2O7: sử dụng trong nhuộm len bằng thuốc nhuộm axit – crom + Các kim loại nặng (Cu, Cr, Zn, Pb, Hg, Co, Ni): có trong thuốc nhuộm hoàn nguyên và thuốc nhuộm hoạt tính + Halogen hữu cơ AOX: đi vào nước thải từ quy trình tẩy trắng + Na2SO4: dùng nhuộm tận trích + Dầu hóa: dùng tạo hồ nhũ hóa in pigment - Nhóm các chất khó phân giải sinh học bao gồm: + Các thuốc nhuộm và các chất tăng trắng quang học + Các chất tạo phức, nhũ hóa và làm mềm + Các chất hồ sợi dọc polieste và sợi pha như polyvinyl ancohol + Các polime tổng hợp dùng làm chất hoàn tất 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Các chất hồ tổng hợp dùng trong in pigment + Dầu khoáng và silicon dùng trong xử lý trước vải, sợi tổng hợp + Các chất giặt vòng thơm, mạch ankylen oxit dài hay mạch nhánh ankyl - Nhóm các chất ít độc có thể phân giải bằng vi sinh vật bao gồm: + Bột sắn không biến tính hóa học dùng để hồ sợi dọc + Các chất giặt ankyl mạch thẳng, các chất tẩy rửa mềm + CH3COOH và HCOOH + Muối trung tính ở nồng độ không cao Theo quy trình công nghệ ngành dệt nhuộm các chất gây ô nhiễm và đặc tính nước thải được trình bày theo bảng 1.2 - Nguồn gây ô nhiễm và đặc tính của nước thải ngành dệt nhuộm Công đoạn Chất ô nhiễm trong nước thải Đặc tính của nước thải Hồ sợi, giũ Tinh bột, glucose, cacboxyl metyl BOD cao (34 – 50 % hồ xelulo, polyvinyl alcol, nhựa, chất béo tổng BOD) và sáp Nấu tẩy NaOH, chất sáp và dầu mỡ, tro, soda, Độ kiềm cao, màu tối, silicat natri, xơ sợi vụn COD cao Tẩy trắng Hypoclorơ, hợp chất chứa clo hoạt Độ kiềm cao, BOD động khác, NaOH, AOX, axit… chiếm 5 %, chất tẩy cao Làm bóng NaOH, tạp chất Độ kiềm cao, BOD thấp (dưới 1 % tổng BOD) Giặt axit H2SO4… Nước thải có pH thấp Nhuộm Các loại thuốc nhuộm, axit acetic và Độ màu rất cao, COD các muối kim loại rất cao, chất hữu cơ khó phân hủy In Chất màu, tinh bột, dầu, đất sét, muối Độ màu cao, BOD cao kim loại, axit và dầu mỡ Hoàn thiện Vết tinh bột, mỡ động vật, muối Kiềm nhẹ, BOD thấp 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nước thải chứa thuốc nhuộm hoạt tính [15] Thuốc nhuộm là những chất hữu cơ có màu, hấp thụ mạnh một phần nhất định của quang phổ ánh sáng nhìn thấy và có khả năng gắn kết vào vật liệu dệt trong những điều kiện nhất định (tính gắn màu). Thuốc nhuộm có thể có nguồn gốc thiên nhiên hoặc tổng hợp. Hiện nay, con người hầu như chỉ sử dụng thuốc nhuộm tổng hợp.
Đặc điểm nổi bật của các loại thuốc nhuộm là độ bền màu - tính chất không bị phân hủy bởi những điều kiện, tác động khác nhau của môi trường, đây vừa là yêu cầu với thuốc nhuộm lại vừa là vấn đề với xử lý nước thải dệt nhuộm. Màu sắc của thuốc nhuộm có được là do cấu trúc hóa học của nó: một cách chung nhất, cấu trúc thuốc nhuộm bao gồm nhóm mang màu và nhóm trợ màu. Nhóm mang màu là những nhóm chứa các nối đôi liên hợp với hệ điện tử π linh động như >C=C<, >C=N-, >C=O, -N=N-. Nhóm trợ màu là những nhóm thế cho hoặc nhận điện tử, như -SOH, -COOH, -OH, NH2., đóng vai trò tăng cường màu của nhóm mang màu bằng cách dịch chuyển năng lượng của hệ điện tử.
Thuốc nhuộm tổng hợp rất đa dạng về thành phần hóa học, màu sắc, phạm vi sử dụng.