Chương 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TỔ CHỨC KHÔNG GIAN LỒNG GHÉP TĂNG TRƯỞNG XANH TẠI KHU VỰC VEN BIỂN 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu khoa học và thực tiễn triển khai tăng trưởng xanh trên thế giới và Việt Nam a) Trên thế giới * Các công trình nghiên cứu khoa học Tăng trưởng xanh trên thế giới và các vấn đề liên quan được đề cập tới trong một số công trình khoa học tiêu biểu gần đây. Trong tài liệu “Hướng tới nền kinh tế xanh” do Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc (UNEP) công bố năm 2011, mô hình kịch bản đầu tư xanh với số vốn khoảng 2% GDP toàn cầu (khoảng 1300 tỷ USD), trong đó khoảng một phần tư của tổng số (0,5% GDP) được đề xuất đầu tư cho các lĩnh vực sử dụng nhiều vốn tự nhiên như các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, nước sạch và thủy sản.
Trong mô hình kinh tế vĩ mô, các tác giả cũng đã tính toán và chỉ ra rằng, xét trong dài hạn, đầu tư vào nền kinh tế xanh sẽ cải thiện hiệu quả kinh tế và tăng tổng lượng của cải trên toàn cầu. Xây dựng một nền kinh tế xanh được khẳng định không thay thế và mâu thuẫn với phát triển bền vững. Nguyên nhân do phát triển bền vững nhằm đạt được các mục tiêu dài hạn (mục tiêu thiên niên kỷ), còn xanh hóa nền kinh tế là phương tiện đưa tới đích của phát triển bền vững. Sterner và Damon (2011) trong một nghiên cứu về chiến lược khí hậu toàn cầu đã nhấn mạnh đến cơ chế sử dụng hiệu quả năng lượng hóa thạch nhằm hướng tới một thị trường cacbon thấp cộng với việc giải quyết các vấn đề về biến đổi khí hậu.
Tăng trưởng xanh được lựa chọn là định hướng, con đường thay thế duy nhất đối với sự phát triển bền vững. Nền kinh tế thế giới sẽ cần công cụ chính sách rõ ràng và hà khắc hơn đối với tăng trưởng hướng tới bền vững và sẽ ngây thơ nếu nghĩ còn con đường khác để đi. Tăng trưởng xanh sẽ thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ năng lượng. Nhiều thách thức sẽ nảy sinh nếu các vấn đề liên quan đến sử dụng hợp lý năng lượng không được xem xét cẩn trọng.
Kết quả nghiên cứu xây dựng mô hình tổ chức nền kinh tế công nghiệp cacbon thấp của Shaohong và Sipeng (2011) cho thấy mô hình doanh nghiệp hiệu quả được xây dựng dựa trên cơ sở các yếu tố kinh tế và kỹ thuật cũng như các yếu tố tài nguyên sinh thái cho phép tối ưu hóa thống nhất các lợi ích kinh tế và sinh thái, do đó, là tiếp cận tốt nhất để thực hiện TTX. Một nghiên cứu tương tự 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của Schmalensee (2012) về chính sách năng lượng đã cung cấp một cái nhìn tổng quan về một số tác động của chính sách năng lượng đến môi trường, đặc biệt là chính sách năng lượng sạch sẽ cung cấp những lợi ích to lớn đối với môi trường như thế nào. Trong công trình “TTX, từ sáng kiến đến triển khai”, hai tác giả Jouvet và Perthuis (2013) đã chỉ ra rằng: TTX liên quan đến việc chuyển đổi quy trình sản xuất và tiêu thụ để duy trì hoặc khôi phục lại các chức năng quan trọng của nguồn vốn tự nhiên trên hành tinh. Quá trình đó đòi hỏi các nhân tố môi trường phải được xem xét là một yếu tố thiết yếu của sản xuất và không chỉ đơn thuần là một yếu tố tác động từ bên ngoài.
Trong thực tế, quá trình chuyển đổi này phụ thuộc vào công nghệ hiện đại đang được thực hiện theo bốn lĩnh vực: mở rộng khái niệm về hiệu quả; chuyển đổi năng lượng; kết hợp các giá trị của vốn tự nhiên trong đời sống kinh tế. Nghiên cứu tổng luận của Bartelmus (2013) đã đưa bức tranh tổng thể về thực trạng của TTX trên toàn thế giới. Theo đó, TTX hay phát triển bền vững là phép đo của sự phát triển toàn diện, nó bao gồm sự tăng trưởng kinh tế, bền vững về môi trường và chất lượng cuộc sống con người. Gần đây nhất, khi nghiên cứu về “Năng lượng tái tạo, sản xuất và TTX”, tác giả Mathews (2014) đã đưa ra những nhận định: năng lượng tái tạo, công nghệ sạch có thể đóng góp rất lớn vào việc giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu, cũng như bảo vệ môi trường và giảm phát thải cacbon.
Trong nghiên cứu này, tác giả đã so sánh lợi nhuận giữa việc khai thác năng lượng (dạng nhiên liệu) với việc khai thác năng lượng tái tạo của thiên nhiên, theo đó việc khai thác các nhiên liệu hóa thạch so với việc chuyển đổi sang năng lượng tái tạo sẽ là một lĩnh vực nghiên cứu có hiệu quả trong tương lai cho môi trường bền vững. Một nghiên cứu đáng chú ý khác của Wong và các cộng sự (2014) đã phân tích vai trò, nền tảng của khoa học công nghệ và tác động mạnh mẽ đến xu thế TTX của các nền kinh tế. Nghiên cứu này sử dụng các sáng chế khoa học và công nghệ, và các phân tích với ba phần chính: xu hướng sản xuất, bắt kịp xu hướng và mô hình hội tụ qua đó đã phát hiện bốn điểm nổi bật cần được xem xét bởi các nhà hoạch định chính sách: (i) ASEAN-4 có độ trễ đáng kể đằng sau các nền kinh tế tiên tiến hơn (Hàn Quốc, Đài Loan và Trung Quốc) mặc dù hiệu suất của các quốc gia này giống hệt nhau trong đầu những năm 1990. Trung Quốc đã tiến lên phía trước về các sáng chế khoa học và sản xuất, nhưng bị tụt hậu trong các sáng chế chất lượng; (ii) so với mức trung bình của thế giới, khu vực nói chung có tiềm năng lớn trong sản xuất năng lượng cacbon thấp; (iii) các nền kinh tế phát triển ở châu Á đã khởi động phát triển khoa học và công nghệ năng lượng cacbon thấp hơn từ công nghệ sản xuất, điều này cho thấy sự cần thiết cho một nền tảng cơ sở khoa học công nghệ mạnh mẽ và một mức độ cao trong sự phát triển công 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghệ năng động đối với ngành năng lượng cacbon thấp; và (iv) các nền kinh tế đã chứng minh các xu thế trái ngược trong phát triển, tập trung giữa cung và cầu của công nghệ năng lượng.
Nói tóm lại, các công trình nghiên cứu đã được tổng quan ở trên đều phản ánh TTX là xu thế chủ đạo của khoa học công nghệ và sự phát triển của nền kinh tế thế giới trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay. * Xu hướng quốc tế và một số nội dung chính về tăng trưởng xanh Đến nay, thực tế cho thấy TTX đã được xác định là trọng tâm trong chính sách phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới trong nỗ lực đạt được sự phát triển bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu, đáng chú ý nhất là khu vực Đông Á (Hàn Quốc, Nhật Bản) và Liên minh châu Âu (EU). Các quốc gia thuộc khu vực này đã đi tiên phong trong việc thúc đẩy TTX với nhiều nội dung quan trọng thể hiện sự cam kết mạnh mẽ hướng tới nền kinh tế xanh. Trung Quốc cũng đã có kế hoạch phát triển quốc gia nhấn mạnh vào nền kinh tế tuần hoàn.
Tại khu vực ASEAN, Lào, Campuchia cũng đang nỗ lực xây dựng một kế hoạch hành động chi tiết sau khi ban hành lộ trình TTX quốc gia; Thái Lan nhấn mạnh vào nền kinh tế đầy đủ với những đặc điểm chính của nền kinh tế xanh. TTX và kinh tế biển xanh đang trở thành mối quan tâm toàn cầu và được xem là động lực để phục hồi, thúc đẩy kinh tế toàn cầu và là công cụ để PTBV. Các nỗ lực quốc tế đã thể hiện rõ quan điểm và các bài học chia sẻ trong các Tuyên bố Đại dương Manađô, Tuyên bố Manila về Biến đổi khí hậu và Quản lý tổng hợp vùng bờ biển (2009), Tuyên bố Đại dương Rio+20, Chương trình Nghị sự Đại dương đến 2030 (2012), các Hội nghị thượng đỉnh Khu vực và Thế giới về Kinh tế Đại dương và TTX vào cuối các năm 2012 và 2013 lần lượt ở Bali và Washington D. Tại Hội nghị Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) tổ chức tháng 11/2011 tại đảo Hawaii, Hoa Kỳ, các nhà lãnh đạo APEC đã thông qua Tuyên bố Honolulu, trong đó, APEC xác định cần phải giải quyết các thách thức môi trường và kinh tế của khu vực bằng cách hướng đến nền kinh tế xanh, cacbon thấp, nâng cao an ninh năng lượng và tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế và việc làm.
Để thúc đẩy các mục tiêu TTX, APEC sẽ thực hiện các biện pháp như giảm 45% mức độ sử dụng năng lượng của APEC vào năm 2035 so với năm 2005, kết hợp các chiến lược phát triển về thải cacbon thấp vào các kế hoạch tăng trưởng kinh tế. Đầu tháng 12/2011, hội nghị quốc tế về Biến đổi Khí hậu tại Nam Phi với 194 nước tham dự đã nhất trí thành lập quỹ Khí hậu xanh và các bước đi mới nhằm thực hiện các cam kết cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính sau năm 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Theo thoả thuận mới đạt được, tất cả các nước đều phải thực hiện cam kết kiểm soát khí thải theo cùng một khuôn khổ pháp lý. Các đại biểu cũng nhất trí gia hạn Nghị định thư Kyoto thêm 5 năm nữa trong điều kiện hiện tại chỉ có các nước công nghiệp phát triển phải thực hiện các chỉ tiêu mang tính ràng buộc pháp lý về cắt giảm khí thải.
Kết quả của hội nghị cho thấy thế giới đang đi tới sự nhất trí cao trong việc giảm phát thải khí nhà kính, một trong những yếu tố cơ bản để có được nền kinh tế cacbon thấp hay còn gọi là kinh tế xanh. * Thực tiễn triển khai TTX tại một số quốc gia Ớ cấp độ quốc gia, Hàn Quốc là nước đầu tiên xây dựng và ban hành Chiến lược TTX, ít cácbon, làm định hướng phát triển trong 60 năm tới. TTX cacbonđược Tổng thống Lee Myung Bak chính thức công bố trong bài phát biểu ngày 15/8/2008, nhân dịp kỉ niệm 60 năm ngày thành lập nước Đại Hàn Dân quốc. Kế hoạch thích ứng với biến đổi khí hậu và năng lượng quốc gia của Hàn Quốc được thông qua ngày 20/08/2008 đã đưa ra mục tiêu tăng tỷ lệ năng lượng tái sinh lên đến 11% trong tổng mức năng lượng sử dụng vào năm 2030.