CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tài liệu trong và ngoài nước về vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Các nghiên cứu về không gian mở đô thị xuất hiện khá sớm, chủ yếu là các nghiên cứu nước ngoài. Không gian mở là một thuật ngữ được sử dụng bởi các nhà quy hoạch cảnh quan và kiến trúc sư cảnh quan cho khu vực đất được cố tình để lại chưa xây dựng như các khu đất trống và các khu rừng trong khi đất xung quanh chúng được phát triển vào các tòa nhà và công trình xây dựng.
Không gian mở công cộng, như công viên, không gian xanh, khu thể thao, khu bảo tồn và khu di sản, quảng trường, không gian lưu thông…từ lâu đã được coi là nơi tập trung thỏa mãn về mặt tinh thần của những hoạt động khác nhau và thúc đẩy những hoạt động xã hội, ràng buộc xã hội, tạo ra không gian cộng đồng và địa điểm kết nối trong đô thị. Cuộc các mạng công nghiệp xuất phát từ nước Anh sau đó lan tỏa ra toàn thế giới Cuộc các mạng công nghiệp xuất phát từ nước Anh sau đó lan tỏa ra toàn thế giới vào giai đoạn cuối thế kỉ 18 đến nửa đầu thế kỉ 19 đã khiến quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ tại các nước Châu Âu đã khiến quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ tại các nước Châu Âu. Với sự bùng nổ của sản xuất hàng hóa dựa trên máy móc công nghiệp, các đô thị mới Châu Âu dần được hình thành, thay đổi và được coi như những đô thị công nghiệp với các chức năng chính là nơi trao đổi và sản xuất hàng hóa. Đến cuối thế kỉ XIX, tốc độ đô thị hoá nhanh chóng và sức ép từ tăng trưởng nóng đem lại diện mạo mất kiểm soát về không gian tại các thành phố ở châu Âu [23].
Trước bối cảnh đó, các nhà quản lý và nghiên cứu đô thị đề xuất sử dụng công cụ quy hoạch và thiết kế đô thị tích hợp với những thành tựu công nghệ tích luỹ được từ ngành xây dựng, môi trường, và kinh tế học nhằm hệ thống hoá không gian công cộng trong thành phố. Lấy mỹ học đô thị làm trọng tâm, các nhà quản lý và học thuật hy vọng giải quyết sự lộn xộn của không gian gây ra bởi quá trình đô thị hoá, nâng cao hình ảnh thành phố, cải thiện hệ thống giao thông, cung cấp không gian xanh, dịch vụ giải trí, thúc đẩy thương mại nội đô phát triển, đồng thời cải thiện chất lượng sống tại những khu đô thị cũ dành cho công nhân. Bắt đầu từ giai đoạn này, các nghiên cứu về hệ thống không gian mở trong 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các đô thị được hình thành với mục đích đáp ứng nhu cầu của chính quyền và người dân về tái tạo cảnh quan đô thị sau thời cách mạng công nghiệp. Thuật ngữ không gian mở được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1833, bởi Ủy ban chọn lọc đường công cộng ở Luân Đôn (Maruani and Amit-Cohen, 2007).
Cho đến những năm 1920, chủ nghĩa hiện đại chiếm vị thế chủ đạo trong lĩnh vực kiến trúc và thiết kế đô thị, đề cao nguyên tắc phân khu công năng trong không gian thành phố. Hiến chương Athens đề ra bốn công năng cơ bản của thành phố, bao gồm: cư ngụ, nơi làm việc, giao thông và nghỉ dưỡng. Trong đó, không gian công cộng – vốn là nơi sinh hoạt và giao lưu cộng đồng chỉ được coi là một công năng phụ trợ. Sau Thế chiến thứ nhất, cùng với quá trình tái đô thị hoá (re-urbanisation) và phát triển ồ ạt của phương tiện cơ giới, đô thị trở nên hỗn loạn, cơ sở hạ tầng quá tải, lý thuyết phân vùng công năng ngặt nghèo của chủ nghĩa hiện đại đã đem lại những mặt tiêu cực trong phát triển đô thị.
Song song với quá trình suy thoái tại khu trung tâm của những thành phố lớn, xu hướng chuyển dịch ra ngoại ô sinh sống của tầng lớp trung lưu thúc đẩy quá trình ngoại ô hoá, khoét sâu tình trạng suy thoái ở khu vực nội đô. Trước bối cảnh đó, các nhà quy hoạch và thiết kế đô thị tại châu Âu đã có những điều chỉnh về nhận thức và lý luận, phản đối việc phân vùng công năng khô cứng của chủ nghĩa hiện đại. Từ năm 1975, phong trào bảo tồn đô thị phát triển, thu hút sự tham gia của hầu hết các thành phố lớn tại châu Âu với khẩu hiệu “Phát triển tương lai vì quá khứ” (A Future for Our Past). Trên nền tảng đó, mọi tầng lớp trong xã hội đều đạt được nhận thức chung, cho rằng không gian đô thị cần được tái phát triển nhằm phục vụ nhu cầu lợi ích của con người.
Các nhà quản lý bắt đầu tái thiết khu vực nội đô, cải thiện không gian công cộng, nâng cấp hệ thống giao thông bộ hành, bảo tồn, phục chế di tích lịch sử, xây dựng những khu thương mại kết hợp văn hoá giải trí quần chúng [23]. Một trong những lý luận kinh điển trong quy hoạch đô thị tại các nước Châu Âu bấy giờ và cũng là một cống hiến lớn cho lí luận quy hoạch đô thị hiện đại chính là lí luận thành phố vườn – thành phố vệ tinh của Ebenezer Howard, một kiến trúc sư nổi tiếng người Anh [2]. Kiến trúc sư đã phê phán những hiện tượng xã hội, văn hóa, kinh tế của các thành phố công nghiệp ở Anh và rút ra kết luận rằng nguyên 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhân cơ bản của các hiện tượng xấu là do tập trung quá cao dân cư vào các đô thị mà lại thiếu đi những khu vực công cộng, nơi con người kết nối thông qua các hoạt động văn hóa, thể thao…Thành phố vườn của Ebenezer Howard được đề xướng năm 1986. Trong số các giải pháp được đề xuất nhằm đề xuất giải quyết các vấn đề về không gian thành phố, tác giả đã đề cập đến việc xây dựng các khu vực cây xanh và đất đai sản xuất nông nghiệp bao quanh các khu ở, tạo không gian xanh nhiều hơn trong thành phố.
Ngoài ra, thành phố được phân bố lại, các thành phố vệ tinh tập hợp xung quanh thành phố trung tâm hay gọi là thành phố mẹ, quy mô lớn nhất là 58. Qua đó, thành phố vườn là những đơn vị thành phố vệ tinh, có quy mô dân số khoảng 32.000 người, quy mô đất đai khoảng 400ha với nhà ở gia đình thấp tầng và có vườn. Kết quả lí luận đã góp phần quan trọng trong việc việc xây dựng các thành phố vườn tại London [2]. Năm 1940, theo Ebenezer Howard, R.
Unwin và Parker thiết kế xây dựng thành phố vườn đầu tiên cách London 50km. Năm 1920, Louis de Soissions thiết kế xây dựng thành phố vườn thứ hai cách London 25km. Thành phố vườn của Ebenezer Howard [2] a. Chi tiết một số bộ phận của Thành phố vườn b.
Sơ đồ cơ cấu quy hoạch thành phố vệ tinh 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Sơ đồ thành phố Letch worth a. Sơ đồ thành phố Letch worth – Thành phố vườn đầu tiên xây dựng năm 1902 cách London 55km b. Chi tiết nhóm nhà ở a.
Sơ đồ quy hoạch thành phố vườn Welwuyn a. Sơ đồ quy hoạch thành phố vườn Welwuyn 1920 cách London 25km b. Chi tiết nhóm nhà ở Được kiến trúc sư Jean-Marcel Auburtin thiết kế trong giai đoạn từ năm 1912 đến năm 1919, sau đó được xây dựng trong giai đoạn từ năm 1921 đến năm 1933, khu đô thị Chemin-Vert gồm có 617 căn hộ có diện tích từ 60 đến 100 m2 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dưới dạng nhà liền kề được bố trí thành từng cụm từ 2 đến 10 căn hộ và tất cả cùng chung một khu vườn riêng [24]. Sự đa dạng về chủng loại và tầm vóc của cây xanh, vị trí của các khối nhà, những điểm khác biệt của các đầu hồi nhà và các khung mái gỗ đã góp phần xoá đi sự lặp lại nhàm chán, đó là chưa kể đến trí tưởng tượng phong phú của chủ nhân mỗi ngôi nhà.
Khu đô thị vườn Chemin-Vert nhìn từ trên cao [24] Hơn nữa, do được xây dựng trên một địa thế hình elíp và theo phong cách của các khu đô thị vườn kiểu Anh, toàn bộ khu đô thị này được cấu trúc để đảm bảo mỗi ngôi nhà có được khoảng lưu không tối thiểu 25 mét, điều đó đảm bảo cho 4.000 cư dân sinh sống tại đây (số liệu của giai đoạn 1935-1940, hiện nay con số này thấp hơn nhiều do phần lớn các căn hộ chỉ có trung bình từ 2 đến 3 nhân khẩu) có đủ ánh nắng, tạo cảm giác ấm cúng và luôn tràn đầy ánh sáng. Xuất phát từ nhu cầu phát triển bền vững, thiết kế đô thị đương đại cần kết hợp yếu tố kinh tế, xã hội, văn hoá và môi trường cùng tạo dựng không gian thành phố và vùng đô thị trong xã hội hậu công nghiệp. Năm 1994, Hiến chương Aalborg (Đan Mạch) được các nước châu Âu cùng thông qua. Những năm 1987 và 1992, lần lượt Báo cáo Brundtland, “Tuyên bố về môi trường sống và phát triển” và “Chương trình nghị sự cho thế kỷ 21” được thông qua tại hội nghị của Liên hiệp quốc họp tại Rio de Janeiro.
Năm 2003, Hội quy hoạch Liên minh châu Âu ban hành “Tân hiến chương Athens”, đề xuất phương hướng thiết kế đô thị chủ nghĩa hiện đại theo xu thế phát triển bền vững. Năm 2007, nước Đức trong lần chủ trì phiên họp của Liên 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com minh châu Âu đề xuất chính thức đưa ý tưởng phát triển bền vững tại các thành phố châu Âu vào Hiến chương Leipzig [23]. Trong những năm gần đây, các nước phát triển (như tại châu Âu, Mĩ hay Úc) thường có mức độ đô thị hóa cao (trên 80%) hơn nhiều so với các nước đang phát triển (như Việt Nam) (khoảng ~35%) [29]. Đô thị các nước phát triển phần lớn đã ổn định nên tốc độ đô thị hóa thấp hơn nhiều so với trường hợp các nước đang phát triển.
Đô thị hóa diễn ra ở mức cao tại các nước phát triển kết hợp với nền tảng kiến trúc hạ tầng đô thị cải tiến qua nhiều năm đã tạo nên các đô thị hiện đại, cân bằng giữa các khu ở, sản xuất, kinh doanh với các khu vực công cộng, giải trí. Cho đến giai đoạn hiện nay, các nghiên cứu về không gian mở nói chung tại các nước có hạ tầng đô thị phát triển hầu hết hướng tới đáp ứng nhu cầu sức khỏe, giải trí tối đa cho người dân và định hướng quy hoạch đô thị thông minh (smart city).