Chương 1 TỔNG QUAN CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT, GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG 1. Nhu cầu thu hồi đất, GPMB trong quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá. Theo văn kiện Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ 10, công nghiệp hóa được định nghĩa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao. Mục tiêu tổng quát của công nghiệp hóa của nước ta là xây dựng nước Việt Nam trở thành nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, quan hệ cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất tinh thần cao, an ninh quốc phòng vững chắc, dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ, văn minh.
Ra sức phấn đấu để đến năm 2020 nước Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp, với tỷ trọng ngành công nghiệp vượt trội hơn các ngành khác. Thực tiễn công nghiệp hóa ở nước ta: Trong 20 năm đổi mới vừa qua, Việt Nam đã từng bước tiến hành CNH - HĐH đất nước và đạt được những thành tựu sau: - Cơ sở vật chất kỹ thuật đã được tăng đáng kể, khả năng độc lập tự chủ của nền kinh tế được nâng cao. Từ một nước nông nghiệp lạc hậu, nước ta đã có hàng trăm KCN, khu chế xuất. Các cơ sở hạ tầng như đường, sân bay, bến cảng, trường học, trạm điện.
được xây dựng khang trang. - Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng CNH - HĐH, từng ngành kinh tế đều có sự chuyển dịch tích cực về cơ cấu sản xuất, cơ cấu công nghệ theo hướng tiến bộ và gắn với thị trường. - Những thành tựu của CNH - HĐH đã góp phần quan trọng đưa nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, thu nhập bình quân đầu người hàng năm tăng ổn định. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện.
Bên cạnh đó, nước ta đang trong tiến trình đổi mới, hội nhập với nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay thì nhu cầu sử 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dụng đất đai cho các mục đích mở mang phát triển đô thị, xây dựng các KCN, khu du lịch dịch vụ, các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật và các công trình khác phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội cũng như đảm bảo quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống nhân dân ngày càng tăng. Vì vậy sử dụng quỹ đất hợp lý phục vụ cho nền kinh tế luôn là nhiệm vụ hàng đầu và công tác quản lý, sử dụng vốn đất quốc gia cũng cần được nâng cao trước xu thế vận động của nền kinh tế. Xuất phát từ những lý do trên mà việc thu hồi đất để phục vụ quá trình CNH - HĐH là vấn đề tất yếu và không thể tránh khỏi. Để thực hiện tốt công tác thu hồi đất, GPMB phục vụ cho các dự án xây dựng, Nhà nước phải có môi trường pháp lý vững chắc, xử lý khéo léo trong mọi tình huống, đặc biệt phải có các chính sách hợp lý đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người dân trong việc BTHT&TĐC khi thu hồi đất.
Nội dung các chính sách, quy định pháp lý chủ yếu về BTHT&TĐC khi nhà nước thu hồi đất theo pháp luật hiện hành. Cơ sở pháp lý về BTHT&TĐC khi Nhà nước thu hồi đất.1 Thu hồi đất - quyền định đoạt về đất của Nhà nước. Mặc dù là đại diện chủ sở hữu nhưng Nhà nước không chiếm hữu, sử dụng đất đai, để bảo vệ quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai, Nhà nước phải có những biện pháp pháp lý nhất định, một trong những biện pháp đó là thu hồi đất. Luật Đất đai quy định các trường hợp bị thu hồi đất, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất và nguyên tắc chung khi thu hồi đất trong những trường hợp cần thiết.
Hậu quả của việc thu hồi đất là rất nghiêm trọng, liên quan đến quyền lợi của người bị thu hồi đất, các chủ đầu tư và Nhà nước. Do đó, Nhà nước cần đặc biệt quan tâm đến lợi ích xã hội, quyền lợi của người có đất bị thu hồi. Sự quan tâm này thể hiện qua chính sách BTHT&TĐC. [15] Thu hồi đất là một biện pháp pháp lý làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai.
Hình thức của nó là một quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giao đất, cho thuê đất. Thu hồi đất thể hiện quyền lực nhà nước trong tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai. Thu hồi đất cũng là nội dung quan trọng trong quản lý nhà nước về đất đai nhằm đảm bảo lợi ích của Nhà nước, của xã hội đồng thời lập lại trật tự kỷ cương trong quản lý Nhà nước về đất đai. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thu hồi đất được hiểu dưới các khía cạnh sau đây: - Là một quyết định hành chính của người có thẩm quyền nhằm chấm dứt quan hệ sử dụng đất của người sử dụng; Quyết định hành chính thể hiện quyền lực nhà nước nhằm thực thi một trong những nội dung quản lý nhà nước về đất đai; - Việc thu hồi đất xuất phát từ nhu cầu của Nhà nước và xã hội hoặc là biện pháp chế tài được áp dụng nhằm xử lý các hành vi vi phạm pháp luật đất đai và một số trường hợp đương nhiên.
Từ đó có thể định nghĩa: Thu hồi đất là văn bản hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm chấm dứt một quan hệ pháp luật đất đai để phục vụ lợi ích của Nhà nước, của xã hội hoặc xử lý hành chính hành vi vi phạm pháp luật đất đai của người sử dụng đất. Tại khoản 5 Điều 4 Luật Đất đai năm 2003 giải thích một cách cụ thể hơn “Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, UBND xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này”.2 Thu hồi đất có BTHT&TĐC. Để khẳng định đất đai là tài sản, là nguồn vốn quan trọng, trong các trường hợp cần thiết, Điều 38 Luật Đất đai năm 2003 xác định rõ các trường hợp bị thu hồi đất. So với Luật Đất đai năm 1993 phạm vi thu hồi đất được xác định hẹp hơn và chủ yếu phục vụ các nhu cầu quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và mục tiêu phát triển kinh tế.
Điều 39, 40 Luật Đất đai năm 2003 quy định: Nhà nước chỉ thực hiện BTHT&TĐC đối với người đang sử dụng đất bị thu hồi khi Nhà nước thu hồi dùng vào các mục đích sau: - Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng trong các trường hợp: Sử dụng đất cho mục đích quốc phòng, an ninh; Sử dụng đất để xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất… - Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế trong trường hợp: đầu tư xây dựng KCN, khu công nghệ cao, khu kinh tế; các dự án đầu tư có nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)… 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đối với dự án sản xuất, kinh doanh phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt thì nhà đầu tư được nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân mà không phải thực hiện thủ tục thu hồi đất.3 Các văn bản pháp luật chủ yếu của nhà nước về bồi thường thiệt hại cho người có đất bị thu hồi. Theo luật đất đai các khái niệm có liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất được định nghĩa như sau: Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, UBND xã, phường, thị trấn quản lý. Bồi thường là đền bù những tổn hại đã gây ra, trả lại tương xứng với giá trị hoặc công lao. Như vậy, bồi thường là trả lại tương xứng với giá trị hoặc công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì hành vi của chủ thể khác.
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất. Hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới. Giá quyền sử dụng đất là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà nước quy định hoặc được hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất. Giá trị quyền sử dụng đất là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với một diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định.
* Các chính sách thu hồi đất, GPMB từ trước khi có Luật Đất đai năm 2003. Từ năm 1965, Việt Nam lại tập trung sức toàn dân vào cuộc kháng chiến chống lại sự chiếm đóng của Mỹ ở phía Nam, để thống nhất đất nước. Vào năm 1975, chiến tranh kết thúc và nước Việt Nam được thống nhất. Năm 1980, Quốc hội Việt nam đã thông qua Hiến pháp lần thứ ba (gọi là Hiến pháp 1980), trong đó Nhà nước công nhận chỉ một hình thức sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà nước thống nhất quản lý.
Như vậy, người đang sử dụng đất chỉ có quyền được sử dụng, ai có nhu cầu sử dụng đất thì Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất, ai không có nhu cầu sử dụng đất thì Nhà nước thu hồi. Luật Đất đai năm 1988 ra đời dựa trên quy định đất đai 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý.