Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIEN VĂN HÓA TO CHỨC VÀ VIỆC ÁP DỤNG NÓ TRONG TRƯỜNG PTTH NƯỚC TA HIỆN NAY Theo quan điểm cảu Phương Đông văn hoá là cái đẹp theo nghĩa rộng, là sự thống nhất của ba giá tri cơ bản: Chân - Thiện - Mỹ. Hình thức đẹp dé biểu hiện trước hết trong lễ, nhạc, cách lãnh đạo, quản ly,. đặc biệt trong ngôn ngữ, cách ứng xử nhân văn. Nó biéu hiện thành một hệ thống các chuẩn mực, giá tri ứng xử được mọi người chấp nhận và xem là đẹp đẽ.
Văn hoá là dòng chảy của các chuẩn mực, các giá trị, niềm tin, các truyền thống, nghỉ lễ của một cộng đồng. Giáo dục là một chức năng cơ bản của văn hoá, gắn liền với lịch sử loài người. Đối với nhân loại, giáo dục là phương thức bảo tồn và bảo vệ kho tàng tri thức văn hoá xã hội. Nhân dân Việt Nam vốn có truyền thong hiéu hoc va mot nén giáo dục lâu đời, trai qua các thời ky lich sử, cộng đồng người Việt đã tiếp thu và chọn lọc, hình thành nên đạo đức, tư tưởng văn hoá Việt Nam.
Nền tảng văn hoá ấy đã tạo nên bản sắc về nhân cách con người Việt Nam. Cũng như sự tỒn tại của giáo dục, văn hoá xuất hiện từ khi có loài người, có xã hội. Văn hoá tồn tại khách quan và tác động vào con người sống trong nó. Nếu môi trường tự nhiên là cái nôi đầu tiên nuôi sống con người, để loài người hình thành và sinh tồn thì văn hoá là cái nôi thứ hai giúp con người trở thành “người” theo đúng nghĩa, hoàn thiện con người, hướng con người khát vọng vươn tới chân - thiện - mỹ.
Xác định được vi trí vai trò của việc hoàn thiện văn hóa tổ chức Bộ Giáo dục và Dao tạo đã phát động phong trào thi đua: “Xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực”. Nội dung của phong trào này gắn liền với văn hóa trường học, hoàn thiện văn hóa trường học là yếu tố đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Khai niệm: Văn hóa tổ chức.Theo Michel Amiel, Pracis Bonnet, Jonseph Jacobs - 1993: “Văn hóa tổ chức là toàn bộ các giá trị, niềm tin, truyền thống và thói quen có khả năng quy định hành vi của mỗi thành viên trong tổ chức, mang lại cho tổ chức một bản sắc riêng, ngày càng phong phú thêm và có thé thay đổi theo thời gian” [24] “Văn hoá tổ chức là một tập hợp các chuẩn mực, các giá trỊ, niềm tin và hành vi ứng xử của một tô chức tạo nên sự khác biệt của các thành viên của tô chức nay với các thành viên tổ chức khác”. Theo Greert Hofstede, Cultures & Organisations, 1991.
[25] Văn hoá tổ chức liên quan đến toàn bộ đời sống vật chất, tỉnh thần của một tổ chức. Nó biểu hiện trước hết trong tầm nhìn, sứ mạng, mục tiêu, triết lý, các giá trị, phong cách lãnh đạo, quản lý, .bầu không khí tâm lý. Thé hiện thành một hệ thống các chuẩn mực, các gia tri, niém tin, quy tac ung xu dugc xem là tốt đẹp va được mỗi người trong tô chức chấp nhận. Văn hóa tổ chức của một nhà trường.
Theo nhà nghiên cứu giáo dục Lê Thị Loan - Học viện Quản lý giáo dục Việt Nam: “Văn hóa tô chức của một nhà trường là hệ thong niém tin, gia tri chuẩn mực, thói quen và truyền thống hình thành trong quá trình phát triển của nhà trường, được các thành viên trong nha trường thừa nhận, làm theo và được thể hiện trong các hình thái vật chất và tinh thần, từ đó tạo nên bản sắc riêng cho mỗi tổ chức sư phạm”.3| Văn hóa trong trường học. Theo quan điểm của GS: Phạm Minh Hạc: “Văn hóa trong trường học là một bộ phận cau thành của hệ thống giáo dục quốc dân và mang bản sắc chung của nên văn hóa dân tộc. Cụ thé hơn văn hóa trường học là hệ thống các chuan mực, giá trị giúp các cán bộ quản lý nhà trường, các thầy giáo, cô giáo, các bậc phụ huynh và các em học sinh có cách thức suy nghĩ, tình cảm và hành động tốt đẹp” [19] Trong một tổ chức nói chung cũng như một Nhà trường, văn hoá luôn tồn tại trong mọi hoạt động tô chức đó. Vấn đề là con người có ý thức được sự tồn tại của nó dé quản lý và sử dụng sức mạnh của nó hay không.
Bản thân văn hoá rất đa dạng và phức tạp. Do đó, khi có những tiếp cận nghiên cứu khác nhau sẽ dẫn đến có nhiều quan niệm về văn hoá khác nhau. Vì thế, việc hoàn thiện VHTC trong các cơ quan hành chính sự nghiệp nói chung, các trường PTTH nói riêng đặc biệt trong loại hình trường PTTH ngoài công lập có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Những hình thái và cấp độ biểu hiện: Nghiên cứu về văn hoá tổ chức, các nhà nghiên cứu trên thế giới và nước ta hiện nay thường theo mô hình cấu trúc hệ thống văn hoá của Edgar H Shem trong cuốn sách “Văn hoá tổ chức và sự lãnh đạo” của ông, đã được tái bản nhiều làn ở Mỹ từ những năm 2000 đến nay.
Mô hình VHTC của Shein chia ra một hệ thống VHTC gồm 3 tang lớp xếp chồng lên nhau, có hình ảnh như một tảng băng chìm, được quan sát từ trên xuống dưới: (1) Các cau trúc hữu hình, (2) Các giá trị tuyên bố, (3) Các ngầm định nền tảng. Phan nổi có thể nhìn thấy: Dé là những thực thê hữu hình như: Cơ sở vật chất trường lớp, bàn ghế, các nội quy, thiết bị dạy học và sinh hoạt chung. Những thực thê vô hình như: Các triết lý, nguyên tắc, phương pháp giải quyết các vấn đề phát sinh và cách thức tiễn hành các hoạt động giáo dục, các thủ tục, chương trình công tác các chuẩn mực hành vi; Nghỉ thức tập thé, cách tô chức các nghi lễ, cách tổ chức thăm viếng, liên hoan trong tập thể giáo viên và học sinh. Cách sử dụng ngôn ngữ: Khẩu hiệu hành động, ngôn ngữ 10 xưng hô giao tiếp giữa thầy và thay, thầy và trò, trò và trò, các biểu tượng, truyền thống,.
Các gia trị được thể hiện: Giá trị được coi như là thước đo đúng va sai, xác định những gì nên làm và không nên làm trong cách hành xử chung và riêng của con người trong một tô chức. Có nhà trường đề cao giá trị nhân văn, tình yêu thương giữa những con người trong tập thé. Có nhà trường dé cao tính cộng đồng trách nhiệm và sự sáng tao trong công việc. Có nhà trường dé cao các giá trị như sự trung thực, tính thực chất hoặc khả năng đổi mới thường xuyên dé nang cao chat lượng các hoạt động day hoc, giáo duc; Có nhà trường đề cao chất lượng dạy và học, tính năng động, tự giác của người dạy và người học,.
Giá trị trong nhà trường được chia thành 2 loại. Loại thứ nhất là các giá trị mà nhà trường đã hình thành và vun đắp trong cả quá trình xây dựng và trưởng thành (Giá trị nền tảng). Loại thứ 2 là những giá trị mới mà cán bộ quản lý hoặc tập thể giáo viên, học sinh mong muốn nhà trường mình có và tao lập từng bước nhằm đem đến sự phát triển mới phủ hợp với yêu cầu của xã hội (Gia trị hướng tới). Các ngâm định nên tang: Bao gồm niềm tin, niềm tự hào, những suy nghĩ và trạng thái xúc cảm tình cảm đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi cá nhân và tạo thành nét chung trong tập thể nhà trường.
Những ngầm định khó thấy này được coi là những quy ước có tính chất bất thành văn, có tính đương nhiên và tạo nên một mạch ngầm tinh thần kết lỗi các thành viên trong nhà trường va làm nền tang cho các giá trị và suy nghĩ, hành động của họ. Ví dụ Cứ nhắc đến trường PTTH chuyên Nguyễn Trãi, giáo viên, hoc sinh, phụ huynh ai ai cũng tin tưởng răng đây là ngôi trường mà từ đội ngũ từ giáo viên đến học sinh đều được tuyển chọn kĩ lưỡng chất lượng cao, đảo tạo 11 ra những thế hệ tài năng cho tỉnh nhà, cho đất nước vì thế khi học trong trường, học sinh luôn có ý thức vượt lên chính mình, nỗ lực không ngừng, không gian lận và sau này khi ra trường, các thế hệ học sinh đó đều có găng làm tốt mọi việc dé xứng đáng là học sinh của trường chuyên lớp chọn. Phong cách ứng xử hàng ngay:D6 là cách thé hiện của mỗi thành viên nhà trường trong ứng xử hàng ngày. Tùy theo hệ giá trị được thừa nhận và những ngầm định nền tang của mỗi tổ chức nhà trường mà có những loại phong cách ứng xử được lựa chọn phù hợp.
Chang hạn, mỗi tập thé giáo viên có một phong cách ứng xử khác nhau: Niềm nở, thân mật hay giữ khoảng cách, nghiêm túc; xué xòa vui nhộn hay công thức trang trọng; nơi nhiệt tình, quan tâm nhưng có nơi lạnh nhạt, bàng quan,. Phong cách làm việc: Mỗi tỗ chức nhà trường, dù có ý thức hay vô thức, đều hình thành nên một phong cách làm việc riêng. Cùng là giáo viên với công việc dạy học nhưng có tập thể giáo viên làm việc vì tỉnh thần trách nhiệm, lại có tập thể làm việc vì những mục tiêu, lợi ích trước mat; có nơi cán bộ giáo viên tận dụng mọi thời gian dé làm việc say mê, sáng tạo, lại có noi làm việc kiểu công chức hành chính “Sáng cắp 6 đi, tối xách về”; có đội ngũ giáo viên làm việc với tinh thần đồng đội cao, hợp tác và chia sẻ, bên cạch những tập thé làm việc trong sự ganh đua, cá nhân, “đèn nhà ai nhà ay rang”. Phương pháp ra quyết định:Việc ra quyết định cho mỗi chủ trương, phương hướng, kế hoạch, chính sách phát triển của nhà trường - một đặc trưng của quản lý nhà trường - cũng thể hiện rất rõ tính chất và mức độ văn hóa của một tô chức sư phạm.
Có thể nêu 3 khía cạnh biểu hiện sau đây: Sự tham gia con người khi ra quyết định: Nếu đó là quyết định độc đoán của cá nhân người quản lý nhà trường sẽ khác biệt rât căn bản vê văn 12 hóa so với việc ra quyết định tập thể dựa trên sự tham gia bàn bạc dân chủ của moi thành viên trong tô chức nhà trường. Thái độ của con người khi tham gia quyết định quản lý cũng bộc lộ rõ văn hóa, chăng hạn một thái độ mạnh dạn đôi mới, dám nghĩ, dám làm sẽ khác hăn thái độ được chăng hay chớ, né tránh, đùn đây, sợ trách nhiệm.