CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 2 c CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN KHOẢN PHẢI TRẢ NHÀ CUNG CẤP TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CHƯƠNG 3: GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ DỊCH VỤ TIN HỌC TPHCM. CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC PHẢI TRẢ NHÀ CUNG CẤP TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ DỊCH VỤ TIN HỌC TPHCM. CHƯƠNG 5: NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ 3 c CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN KHOẢN PHẢI TRẢ NHÀ CUNG CẤP TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 2. Nội dung và đặc điểm của khoản mục Phải trả nhà cung cấp 2.
Nội dung Phải trả nhà cung cấp là khoản mục phản ánh tình hình thanh toán cho người bán vật tư, hàng hóa, người cung cấp dịch vụ theo hợp đồng kinh tế đã ký kết.Bên cạnh các khoản nợ tiền mua hàng thì cũng có những trường hợp doanh nghiệp ứng trước tiền hàng cho NCC. Các khoản phải trả nhà cung cấp bao gồm: - Phải trả NCC ngắn hạn là khoản nợ phải trả trong một chu kỳ hoạt động kinh doanh bình thường hoặc một năm, có thể thanh toán khoản nợ từ tài sản ngắn hạn hay thay thế bằng một khoản nợ ngắn hạn khác.Đối với doanh nghiệp hầu hết các khoản phải trả NCC đều là nợ ngắn hạn. - Phải trả NCC dài hạn là khoản nợ phải trả nhiều hơn một chu kỳ hoạt động kinh doanh hoặc hơn một năm.Đó là khoản nợ mà đơn vị được được phép trả góp trong nhiều năm. - Ngoài ra theo mối quan hệ giữa đơn vị và NCC,khoản phải trả NCC được chia thành phải trả NCC bên ngoài và phải trả NCC nội bộ(giữa chi nhánh với tổng công ty hay giữa các các chi nhánh với nhau).
Nguyên tắc hạch toán Tài khoản này dùng để phản ánh tình hình thanh toán về các khoản nợ phải trả của doanh nghiệp cho người bán vật tư, hàng hóa, người cung cấp dịch vụ, người bán TSCĐ, BĐSĐT, các khoản đầu tư tài chính theo hợp đồng kinh tế đã ký kết. Tài khoản này cũng được dùng để phản ánh tình hình thanh toán về các khoản nợ phải trả cho người nhận thầu xây lắp chính, phụ. Không phản ánh vào tài khoản này các nghiệp vụ mua trả tiền ngay. Nợ phải trả cho người bán, người cung cấp, người nhận thầu xây lắp cần được hạch toán chi tiết cho từng đối tượng phải trả.
Trong chi tiết từng đối tượng phải trả, tài khoản này phản ánh cả số tiền đã ứng trước cho người bán, người cung cấp, người nhận thầu xây lắp nhưng chưa nhận được sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, khối lượng xây lắp hoàn thành bàn giao. 4 c Doanh nghiệp phải theo dõi chi tiết các khoản nợ phải trả cho người bán theo từng loại nguyên tệ. Đối với các khoản phải trả bằng ngoại tệ thì thực hiện theo nguyên tắc: - Khi phát sinh các khoản nợ phải trả cho người bán (bên có tài khoản 331) bằng ngoại tệ, kế toán phải quy đổi ra Đồng Việt nam theo tỷ giá giao dịch thực tế tại thời điểm phát sinh (là tỷ giá bán của ngân hàng thương mại nơi thường xuyên có giao dịch). Riêng trường hợp ứng trước cho nhà thầu hoặc người bán, khi đủ điều kiện ghi nhận tài sản hoặc chi phí thì bên Có tài khoản 331 áp dụng tỷ giá ghi sổ thực tế đích danh đối với số tiền đã ứng trước.
- Khi thanh toán nợ phải trả cho người bán (bên Nợ tài khoản 331) bằng ngoại tệ, kế toán phải quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá ghi sổ thực tế đích danh cho từng đối tượng chủ nợ (Trường hợp chủ nợ có nhiều giao dịch thì tỷ giá thực tế đích danh được xác định trên cơ sở bình quân gia quyền di động các giao dịch của chủ nợ đó). Riêng trường hợp phát sinh giao dịch ứng trước tiền cho nhà thầu hoặc người bán thì bên Nợ tài khoản 331 áp dụng tỷ giá giao dịch thực tế (là tỷ giá bán của ngân hàng nơi thường xuyên có giao dịch) tại thời điểm ứng trước. - Doanh nghiệp phải đánh giá lại các khoản phải trả cho người bán có gốc ngoại tệ tại tất cả các thời điểm lập Báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật. Tỷ giá giao dịch thực tế khi đánh giá lại khoản phải trả cho người bán là tỷ giá bán ngoại tệ của ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp thường xuyên có giao dịch tại thời điểm lập Báo cáo tài chính.
Các đơn vị trong tập đoàn được áp dụng chung một tỷ giá do Công ty mẹ quy định (phải đảm bảo sát với tỷ giá giao dịch thực tế) để đánh giá lại các khoản phải trả cho người bán có gốc ngoại tệ phát sinh từ các giao dịch trong nội bộ tập đoàn. Bên giao nhập khẩu ủy thác ghi nhận trên tài khoản này số tiền phải trả người bán về hàng nhập khẩu thông qua bên nhận nhập khẩu ủy thác như khoản phải trả người bán thông thường. Những vật tư, hàng hóa, dịch vụ đã nhận, nhập kho nhưng đến cuối tháng vẫn chưa có hóa đơn thì sử dụng giá tạm tính để ghi sổ và phải điều chỉnh về giá thực tế khi nhận được hóa đơn hoặc thông báo giá chính thức của người bán. Khi hạch toán chi tiết các khoản này, kế toán phải hạch toán rõ ràng, rành mạch các khoản chiết khấu thanh toán, chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán của người bán, người cung cấp nếu chưa được phản ánh trong hóa đơn mua hàng.
Kết cấu của khoản Phải trả NCC 5 c Sơ đồ 2.1: Sơ đồ chữ T tài khoản 331 NỢ TK 331 CÓ - Số tiền đã trả cho người bán vật tư, hàng - Số tiền phải trả cho người bán vật tư, hóa,người cung cấp dịch vụ, người nhận hàng hóa,người cung cấp dịch vụ, người thầu xây lắp. nhận thầu xây lắp. - Số tiền ứng trước cho người bán, - Điều chỉnh số chênh lệch giữa giá tạm ngườicung cấp, người nhận thầu xây lắp tính nhỏ hơn giá thực tế của số vật tư, nhưng chưa nhận được vật tư, hàng hóa, hàng hóa, dịch vụ đã nhận khi có hóa đơn hoặc thông báo giá chính thức. dịch vụ, khối lượngsản phẩm xây lắp hoàn - Đánh giá lại các khoản phải trả cho thành bàn giao.
- Số tiền người bán chấp thuận giảm giá người bán bằng ngoại tệ( tỷ giá ngoại tệ hàng hóa hoặc dịch vụ đã giao theo hợp tăng cao so với Đồng Việt Nam). Số dư bên Có: Số tiền còn phải trả cho người bán vật tư, hàng hóa, người cung - Chiết khấu thanh toán và chiết khấu cấp dịch vụ, người nhận thầu xây lắp. thương mại được người bán chấp thuận cho DN giảm trừ vào nợ phải trả cho người bán. - Giá trị vật tư, hàng hóa thiếu hụt kém chất lượng khi kiểm nhận và trả lại người bán.
- Đánh giá lại các khoản phải trả cho người bán bằng ngoại tệ( tỷ giá ngoại tệ giảm so với Đồng Việt Nam). Số dư bên Nợ :Số tiền đã ứng trước cho người bán hoặc số đã trả nhiều hơn số phải trả cho người bán theo chi tiết từng đối tượng cụ thể. Nguồn: Thông tư 200/2014/TT-BTC 2. Chứng từ sử dụng 6 c - Hóa đơn GTGT, chứng từ vận chuyển, biên bản kiểm nghiệm, phiếu chi, phiếu nhập kho….
- Các hợp đồng mua bán, đi thuê TS; các biên bản thanh lý hợp đồng mua bán,hợp đồng đi thuê; đơn đặt hàng. - Các kế hoạch sản xuất, giấy đề nghị mua hàng đã được phê duyệt. - Phiếu báo giá, biên bản và báo cáo nhận hàng. Sổ kế toán sử dụng - Sổ chi tiết, sổ tổng hợp tài khoản 331; các biên bản đối chiếu định kỳ về số liệu giữa DN và người bán, giữa DN với ngân hàng… - Ngoài ra còn sử dụng một số chứng từ khác như: thẻ kho, nhật ký sản xuất… 2.
Đặc điểm khoản mục Phải trả NCC trong kiểm toán BCTC Trong quá trình sản xuất kinh doanh, quá trình mua hàng và quá trình thanh toán thường không diễn ra đồng thời. Do đó khoản mục Phải trả NCC là khoản mục thường xuyên xuất hiện trong kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Khoản mục này phản ánh nghĩa vụ nợ phải trả của doanh nghiệp đối với các NCC. Nợ phải trả NCC là nguồn tài trợ cho việc hình thành các tài sản của doanh nghiệp, nó có mối liên hệ với rất nhiều khoản mục quan trọng trong BCTC của doanh nghiệp như HKT, TSCĐ… Ngoài ra khoản mục này còn liên quan trực tiếp đến quá trình mua các yếu tố đầu vào, ảnh hưởng đến giá vốn và từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp.
Khoản mục Phải trả NCC là một chỉ tiêu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nợ phải trả của doanh nghiệp, là một khoản mục quan trọng hình thành nên nguồn vốncủa doanh nghiệp. Chính vì nó chiếm giữ một tỷ trọng lớn trong tổng nợ phải trả của doanh nghiệp nên nó ảnh hưởng rất lớn đến cơ cấu vốn của doanh nghiệp, thể hiện khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp. Tỉ suất tự tài trợ = Nguồn vốn chủ sở hữu/ Tổng nguồn vốn Tỉ suất tự tài trợ của doanh nghiệp lớn thì khả năng huy động vốn của doanh nghiệp sẽ thấp, ngược lại tỉ suất này thấp thể hiện khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp kém, tình hình tài chính có khả năng gặp rắc rối vì quá lệ thuộc vào nguồn tài trợ tư bên ngoài, ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp. Nợ phải trả NCC phải được quản lý chặt chẽ vì những sai phạm về việc phản ánh khoản mục này sẽ ảnh hưởng đến việc đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp 7 c bởi vì các tỉ suất quan trọng phản ánh khả năng thanh toán của doanh nghiệp đều liên quan đến khoản mục phải trả NCC như: khả năng thanh toán nhanh, khả năng thanh toán hiện hành, khả năng thanh toán nợ ngắn hạn….
Như vậy nếu khoản mục phải trả NCC bị đánh giá sai sẽ ảnh hưởng đến nhiều chỉ tiêu trong BCTC, khiến người đọc hiểu sai về tình hình tài chính cũng như khả năng thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp. Bên canh đó khoản mục này còn có mối quan hệ với chi phí sản xuất kinh doanh, giá vốn của doanh nghiệp, từ đó có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận gây ảnh hưởng trọng yếu đến Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Do đó, kiểm toán khoản mục phải trà NCC có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong kiểm toán BCTC. Những sai phạm thường gặp đối với khoản mục phải trả NCC Khoản phải trả NCC là khoản mục quan trọng trên BCTC.