Chương 1 TONG QUAN VE QUAN LY THU NSNN va DU AN HIEN DAI HOA THU, NOP NSNN. Téng quan vé quan ly thu NSNN 1. Khai niệm, đặc điểm và nội dung thu NSNN * Khải niệm: Thu NSNN là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhăm thỏa mãn các nhu cầu của Nhà nước.84] * Thu NSNN có đặc điểm riêng có của nó: Một là, thu NSNN đưới bat kỳ xã hội nào cũng đều gan liền với quyền lực chính trị và việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Nói một cách cụ thể, quyền lực của nhà nước và các chức năng nhiệm vụ của nhà nước là những nhân tố trực tiếp quyết định mức thu, nội dung và cơ cau thu của NSNN.
Hai là, các hoạt động thu NSNN được tiễn hành trên cơ sở những luật định như luật NSNN, các luật thuế, các chế độ, chính sách do Nhà nước ban hành. Các hoạt động thu NSNN bắt buộc phải dựa trên cơ sở pháp luật vì thu NSNN có phạm vi rộng, tác động đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội và có liên quan tới lợi ích của hầu hết các chủ thé trong nền kinh tế. Thực chất của thu NSNN là lấy về cho Nhà nước một phần thu nhập của các tô chức và cá nhân trong xã hội. Do đó, các tô chức, cá nhân có thu nhập đều là đối tượng của hoạt động thu NSNN.
Ba là, nguồn tài chính chủ yếu hình thành nên nguồn thu NSNN là từ giá trị sản phẩm thang dư của xã hội và được hình thành chủ yếu qua quá trình phân phối lại mà trong đó thuế là hình thức thu phô biến. Thu NSNN gồm nhiều khoản thu với nhiều hình thức khác nhau và có tính chất khác nhau như: tự nguyện — bắt buộc; ngang giá — không ngang giá; có đối khoản — không có đối khoản trực tiếp; kinh tế - phi kinh tế. Bon là, thu NSNN gan chặt với quy mô và trình độ phát triển của nền kinh tế và sự vận động của các phạm trù giá trị khác nhau như giá cả, thu nhập, lãi suất,. Sự vận động của các phạm trù đó vừa tác động đến sự tăng giảm mức thu, vừa đặt ra yêu cầu nâng cao tác dụng điều tiết của các công cụ thu NSNN.
Kết quả quá trình hoạt động của nên kinh tế và hình thức, phạm vi, mức độ vận động của các phạm trù giá trị khác là tiền đề quan trọng đối với NSNN. Ngược lại, chính sách thu NSNN khi áp dụng vào thực tế sẽ trở thành nhân tố quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả quá trình hoạt động của nền kinh tế cũng như sự vận động của các phạm trù giá trị khác. * Thu NSNN bao gồm: - Thuế , lệ phi, phí do các tổ chức va cá nhân nộp theo quy định của pháp luật. - Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước như: + Thu nhập từ vốn góp của Nhà nước vào các cơ sở kinh tế; + Tiên thu hôi vôn của Nhà nước tại các cơ sở kinh tê; + Thu hồi tiền cho vay của Nhà nước (cả gốc lẫn lãi).
- Thu từ các hoạt động sự nghiệp. - Thu từ bán hoặc cho thuê tài nguyên, tài sản thuộc sở hữu Nhà nước. - Thu từ vay nợ và viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân nước ngoài, từ đóng góp tự nguyên của các tô chức, cá nhân trong và ngoai nước. - Thu khác: như thu từ phạt, tịch thu, tịch biên tải san,.
Tổ chức thu và quan lý thu NSNN ở Việt Nam Hiểu một cách đầy đủ, tổ chức thu NSNN bao gồm toàn bộ các hoạt động liên quan đến việc lập dự toán thu, chấp hành dự toán thu và quyết toán thu NSNN, tất cả được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định, thường được xác định cho từng năm. Ở nước ta, năm ngân sách trùng với năm đương lịch; thời điểm bắt đầu là ngày mồng | tháng 1 và thời điểm kết thúc là ngày 31 thang 12 hàng năm. Khau lập dự toán thu NSNN được thực hiện trước khi năm ngân sách bắt đầu (lập dự toán từ cơ sở thang 6, Bộ Tài chính tổng hợp trình Chính phủ trong tháng 10 va Quốc hội quyết định dự toán thu ngân sách trước 15 tháng 11 năm trước). Khâu chấp hành dự toán thu trùng với năm ngân sách.
Sau khi năm ngân sách kết thúc phải đánh giá tình hình chấp hành ngân sách và đó là khâu quyết toán thu NSNN. Quản lý thu NSNN được quy định bằng pháp luật và theo dự toán. Ở Việt Nam, quan ly thu NSNN bằng Hiến pháp năm 1992 (sửa đối năm 2001) và Luật NSNN năm 1996 (sửa đôi năm 2002). Luật NSNN hiện nay là đạo luật cơ bản của Việt Nam điều chỉnh các mối quan hệ trong lĩnh vực NSNN nói chung và quản lý thu NSNN nói riêng.
Hệ thống các cơ quan thu NSNN hiện nay ở nước ta là co quan Thuế (thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với các khoản thu nội địa), cơ quan Hải quan (thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với các khoản thu liên quan đến hàng hoá dịch vụ xuất, nhập khâu) và các cơ quan khác được Chính phủ, Bộ Tài chính giao nhiệm vụ tô chức thu NSNN (gọi chung là cơ quan thu). Các cơ quan này có trách nhiệm phối hợp với KBNN tổ chức thu và quản lý các khoản thu NSNN, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các đối tượng thực hiện nghĩa vụ nộp NSNN day đủ, kịp thời. Về nguyên tắc, các khoản thu NSNN được nộp qua ngân hang hoặc nộp trực tiếp tại KBNN và được hạch toán đầy đủ, kịp thời, chính xác vào tài khoản thu NSNN tại KBNN. Uy ban nhân dân các cấp, cơ quan Thuế và các cơ quan có trách nhiệm tô chức triển khai thực hiện ngay từ đầu năm công tác thu ngân sách, đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời theo quy định của pháp luật.
Thực hiện cải cách hành chính thuế, cải cách thủ tục hải quan theo hướng đơn giản hoá, công khai, minh bạch các thủ tục thu nộp NSNN, mở rộng áp dụng công nghệ thông tin tiên tiến, hiện đại vào quy trình thu, quản lý thu tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp NSNN, cho doanh nghiệp khi thực hiện nghĩa vụ thu, nộp NSNN. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thu NSNN ở Việt Nam. Một là, cơ chế chỉnh sách chung về quản lý thu NSNN: Day là yếu tố tác động trực tiếp đến quá trình thu NSNN. Moi hoạt động nghiệp vụ cụ thé trong lĩnh vực thu NSNN đều được tiến hành dựa trên căn cứ pháp lý là các văn bản, chế độ quản lý thu NSNN do cơ quan Nhà nước có thâm quyền ban hành.
Vì vậy, cơ chế, chính sách quản lý thu NSNN có ảnh hưởng cực kỳ quan trọng đến hoạt động quản lý thu NSNN. Có thê thấy rõ điều này qua một số nội dung cụ thể sau: - Hệ thống chứng từ thu NSNN: Một hệ thống chứng từ thu NSNN hoàn thiện sẽ giúp đối tượng nộp kê khai đễ dàng, đầy đủ và chính xác, nhờ đó vừa giảm được thời gian tiêu hao cho việc thu nộp, góp phần tập trung nhanh các khoản thu vào NSNN, đồng thời đảm bảo cung cấp thông tin sát thực, có hiệu quả cho các cơ quan quản lý. - Phương thức và quy trình thu NSNN: Phương thức thu đa dạng sẽ góp phần tăng tính chủ động cho đối tượng nộp. Nếu quy trình thu đơn giản, hợp lý sẽ giúp tiết kiệm được thời gian, chi phí dành cho việc thực hiện mỗi khoản thu đối với cả người nộp và cơ quan thu.
Mạng lưới các điểm thu ảnh hưởng đến việc thực hiện công tác thu. - Phân định nhiệm vụ giữa các cơ quan trong công tác quản lý thu NSNN: Công tác quản lý thu NSNN có đặc điểm là liên quan đến nhiều cơ quan, ban ngành nên rất cần có sự phân định rõ nhiệm vụ giữa các cơ quan nhằm tránh sự chồng chéo, ý lại, thiếu trách nhiệm trong quản lý thu NSNN. Việc phân định trách nhiệm này phải được tôn trọng và thé chế hóa thành các văn bản quy phạm pháp luật. - Phân cấp trong quản lý thu NSNN: Trong điều kiện hiện nay, phân cấp quản lý thu NSNN là việc chuyền giao nhiệm vụ, thâm quyền từ cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên xuống cơ quan Nhà nước cấp dưới nhằm đạt được mục tiêu nâng cao hiệu quả quản lý.
Phân cấp quản lý thu NSNN một cách hợp lý, rõ ràng sẽ tạo sự chủ động cho các cấp ngân sách trong việc tô chức và tận thu được các khoản thu cho NSNN. Hai là, trình độ cán bộ và cơ cầu bộ máy của cơ quan thu Trình độ cán bộ có tác động lớn đên hiệu quả công việc. Trong bộ máy quản 10 lý, con người là nhân tố trung tâm, có vai trò quan trọng trong việc tiếp nhận và xử lý thông tin để ra các quyết định quản lý phù hợp. Trình độ cán bộ ảnh hưởng trực tiếp đến tính kịp thời, chính xác, quyết định sự thành bại của công tác quản lý nói chung và công tác quản lý tài chính nói riêng.
Công tác quản lý thu NSNN là một công việc khó khăn, nhạy cảm, phức tạp vì có liên quan đến lợi ích của nhiều đối tượng. Do đó, để có thể thực hiện tốt công việc nay doi hỏi một đội ngũ can bộ thu giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, có khả năng tiếp cận với khoa học công nghệ mới và đặc biệt là phải có tinh thần trách nhiệm và tư cách đạo đức tốt. Ngoài ra, đội ngũ cán bộ làm công tác thu còn là người đại điện cho Nhà nước tuyên truyền, hướng dẫn chế độ chính sách pháp luật của Nhà nước đến từng đối tượng nộp thuế và các tầng lớp dân cư. Bên cạnh đó, một bộ máy làm việc được tô chức hợp lý, khoa học sẽ phát huy tối đa năng lực của đội ngũ cán bộ, thúc đây chu trình thu NSNN di vào hoạt động trôi chảy.
Ba là, phương pháp quản lý, công tác phối hợp giữa các tổ chức, cá nhân có liên quan Công tác quản lý các khoản thu NSNN liên quan đến rất nhiều cấp, cơ quan, ban ngành. Chính quyền các cấp có nhiệm vụ phối hop với cơ quan thu tô chức đôn đốc việc thu nộp, trực tiếp tham gia thu đối với những khoản thu được ủy nhiệm thu.