phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của luận văn đƣợc chia làm ba chƣơng: - Chƣơng I:Văn hoá công sở và Tiêu chuẩn văn hoá công sở của ngành thuế.Đây là chƣơng dẫn luận, nhằm làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản, có tính chất lý luận về văn hoá và văn hoá công sở nhƣ: khái niệm văn hoá công sở; những biểu hiện của văn hoá công sở; vai trò và những biện pháp xây dựng văn hoá công sở. Trong chƣơng này, chúng tôi cũng giới thiệu khái quát Quy định của Tổng cục Thuế về Tiêu chuẩn văn hoá công sở ngành thuế. 7 z - Chƣơng II:Khảo sát, đánh giá việc tổ chức thực hiện Tiêu chuẩn văn hoá công sở tại Chi cục Thuế quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội. Trên cơ sở những thông tin khảo sát đƣợc từ thực tế, chƣơng này sẽ khái quát, nhận xét, đánh giá về việc tổ chức thực hiện Tiêu chuẩn văn hoá công sở tại Chi cục Thuế quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội qua những nội dung chủ yếu sau: vai trò và trách nhiệm tổ chức thực hiện; biện pháp và kết quả tổ chức thực hiện.
- Chƣơng III:Giải pháp tổ chức thực hiện Tiêu chuẩn văn hoá công sở ngành thuế tại Chi cục Thuế quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội. Trên cơ sở những vấn đề lý luận và thực tiễn ở các chƣơng trên, trong chƣơng này, chúng tôi đi sâu phân tích những giải pháp thuộc về trách nhiệm của Tổng cục Thuế và Cục Thuế Thành phố Hà Nội nói chung và trách nhiệm của Chi cục Thuế quận Thanh Xuân nói riêng để tổ chức thực hiện tốt Tiêu chuẩn Văn hoá công sở ngành thuế. Do thời gian nghiên cứu có hạn nên đề tài chỉ mới dừng lại ở việc đánh giá và góp ý cho Tiêu chuẩn văn hoá công sở của ngành thuế và việc tổ chức thực hiện tiêu chuẩn này tại Chi cục Thuế quận Thanh Xuân. Tôi rất mong nhận đƣợc những ý kiến đóng góp của các Thầy cô và đồng nghiệp để có thể hoàn thiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày tháng năm 2018 Học viên Lê Thị Minh Hồng 8 z CHƢƠNG I: VĂN HOÁ CÔNG SỞVÀ TIÊU CHUẨN VĂN HOÁ CÔNG SỞ CỦA NGÀNH THUẾ 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về Văn hoá công sở 1. Khái niệm“Văn hoá công sở” Để hiểu đƣợc khái niệm “Văn hoá công sở”, chúng ta cần làm rõ hai khái niệm liên quan: Văn hoá và công sở a.Khái niệm “Văn hoá” Hiện nay cùng với sự phát triển của xã hội loài ngƣời, văn hoá đƣợc nhìn nhận và đánh giá khá toàn diện dựa trên những góc cạnh khác nhau của cuộc sống. Văn hoá là một khái niệm rất quen thuộc và gần gũi, đƣợc sử dụng rộng rãi trong đời sống hàng ngày của con ngƣời.
Nói đến văn hoá có lẽ ai cũng hiểu ít nhiều và cảm nhận đƣợc nó. Tuy nhiên để hiểu một cách toàn diện và đầy đủ về văn hoá thì lại là điều không đơn giản. Văn hoá có biểu hiện đa dạng và phong phú, là đối tƣợng đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Các quan điểm về văn hoá bao hàm nội dung sâu rộng và phong phú, mỗi một học giả ở mỗi đất nƣớc, mỗi thời kỳ khác nhau đều có những cách lý giải về văn hoá không giống nhau.Tại Việt Nam, Giáo sự Phan Ngọc trong cuốn “Văn hoá Việt Nam và cách tiếp cận mới” cho biết trên thế giới có đến hơn 400 định nghĩa về văn hoá [11].
Dƣới đây, chúng tôi xin đƣa ra ba trong số hàng trăm định nghĩa (mà nhiều nhà nghiên cứu cho là tiêu biểu nhất) về văn hoá: Giáo sƣ Trần Ngọc Thêm đã đƣa ra định nghĩa về văn hoá: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [17; 10]. ÔngFederico Mayor, Tổng Thƣ ký UNESSCO nêu ra nhân lễ phát động Thập kỷ quốc tế phát triển văn hoá (1988 – 1997): “Văn hoá là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của các cá nhân và cộng đồng) trong quá khứ và hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống 9 z các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của từng dân tộc”. Theo định nghĩa này, văn hoá có mặt trong mọi hoạt động của con ngƣời.
Định nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Danh nhân văn hoá thế giới, Ngƣời viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoat hàng ngày về ăn mặc ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”[10; 431]. Nhƣ vậy qua ba định nghĩa trên, chúng ta có thể thấy rằng cách tiếp cận văn hoá hoàn toàn phụ thuộc vào góc độ nghiên cứu, trình độ và quá trình nhận thức của con ngƣời trong tiến trình phát triển lịch sử.
Dù định nghĩa ở góc độ nào thì văn hoá vẫn là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo ra trong mối quan hệ qua lại giữa con ngƣời với môi trƣờng tự nhiên và môi trƣờng xã hội. Trong khuôn khổ của luận văn với đối tƣợng nghiên cứu là các Tiêu chuẩn văn hoá công sở ngành thuế và vấn đề tổ chức thực hiện các Tiêu chuẩn đó tại Chi cục Thuế quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội; tác giả tiếp cận khái niệm văn hoá nhƣ sau: “Văn hoá là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong thực tiễn, trong sự tương tác của con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [17; 10]. Khái niệm “Công sở” Thuật ngữ “Công sở” là một thuật ngữ đƣợc sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên, cách hiểu và giải thích về thuật ngữ này cũng chƣa phải đã hoàn toàn thống nhất.
Đa số mọi ngƣời đều hiểu công sở là nơi làm việc chung của mọi ngƣời trong một tổ chức. Công sở theo cách hiểu dƣới góc độ quản lý nhà nƣớc chính là cơ quan công quyền, thực thi các công việc nhà nƣớc. 10 z Từ điển Tiếng việt của Viện ngôn ngữ học, năm 1994 do Hoàng Phê chủ biên đã định nghĩa: công sở là trụ sở cơ quan, xí nghiệp nhà nước. Từ điển và từ ngữ Việt Nam của Nguyễn Lân định nghĩa công sở là chỗ làm việc của một cơ quan nhà nước.
Trong cuốnThuật ngữ hành chính do Viện Nghiên cứu Hành chính - Học viện Hành chính quốc gia phát hành, khái niệm công sở đƣợc giải thích theo hai cách nhƣ sau: - Theo nghĩa rộng: Công sở chỉ các cơ quan nhà nƣớc nói chung, gồm các cơ quan trong hệ thống quyền lực nhà nƣớc (Quốc hội, HĐND các cấp); cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nƣớc (Chính phủ, cac Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp); các cơ quan toà án, viện kiểm sát nhân dân các cấp. - Theo nghĩa hẹp: Công sở đƣợc hiểu là các cơ quan hành chính nhà nƣớc (Chính phủ, UBND các cấp và các cơ quan trực thuộc); Cũng có khi hiểu “công sở” là trụ sở - địa điểm làm việc của một cơ quan có diện tích cụ thể, có cơ sở vật chất cụ thể, đồng thời là nơi diễn ra mọi hoạt động của cơ quan. Hiểu theo nghĩa này,“Công sở là nơi để tổ chức các cơ chế kiểm soát công việc hành chính, soạn thảo, xử lý văn bản phục vụ cho công việc chung, là nơi phối hợp hoạt động của các cán bộ, công chức theo một cơ chế nhất định”[15; 27]. Theo giáo trình “Nghiệp vụ Thư ký và Tổ chức” – Học viện hành chính quốc gia: “Công sở là nơi để tổ chức các cơ chế kiểm soát công việc hành chính quản lý các mặt của đời sống xã hội, là nơi soạn thảo và xử lý các văn bản để phục vụ cho công việc chung, đảm bảo các thông tin cho hoạt động của bộ máy quản lý Nhà nước, nới phối hợp các bộ phận cán bộ, công chức theo cơ chế nhất định để thực hiện mọi nhiệm vụ được Nhà nước giao”.
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về công sở và để hiểu một cách đầy đủ hơn nó không chỉ là trụ sở làm việc, một tổ chức, một pháp nhân công quyền mà nó là tên gọi chung chỉ về phòng hoặc khu làm việc của một cơ quan, tổ 11 z chức thực hiện các công việc có tính chất chuyên môn nhƣ Quản trị văn phòng, Quản lý hành chính, tài chính – kế toán, công nghệ thông tin… trong đó đƣợc đầu tƣ các trang thiết bị, cơ sở vật chất nhƣ: Máy tính, bàn ghế, tủ, mạng internet, máy in, máy fax, máy photo, máy hủy tài liệu… Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng từ công sở trong khái niệm “Văn hoá công sở” theo nghĩa hẹp là cơ quan của bộ máy nhà nƣớc đƣợc thành lập theo luật định, có tƣ cách pháp nhân, đƣợc pháp luật điều chỉnh để quản lý các công việc có tính chuyên ngành và phục vụ lợi ích công -định nghĩa này phù hợp với Chi cục Thuế quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội. Từ các đặc điểm phân tích trên ta có thể định nghĩa chung công sở nhƣ sau: “Công sở là nơi làm việc, ở đó diễn ra các hoạt động lãnh đạo, điều hành, hoạch định, kiểm tra giám sát công việc của một cơ quan tổ chức để đạt mục tiêu chung” c. Khái niệm “Văn hoá công sở”: Trong mỗi tổ chức đều tồn tại những chuẩn mực về giá trị đặc trƣng, hình tƣợng, phong cách đƣợc tổ chức tôn trọng và truyền từ ngƣời này sang ngƣời khác, thế hệ này sang thế hệ khác. Chúng có ảnh hƣởng quan trọng đến hành vi của các thành viên.
Khi phải đối đầu với những vấn đề nan giải về đạo đức, những hệ thống giá trị, phƣơng pháp tƣ duy này có tác dụng chỉ dẫn các thành viên tổ chức cách thức ra quyết định hợp với phƣơng châm hành động của tổ chức. Khái niệm đƣợc sử dụng để phản ánh những hệ thống này đƣợc gọi với nhiều tên khác nhau nhƣ Văn hoá công sở, hay văn hoá công ty (corporate culture), văn hoá tổ chức (organizational culture).