phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác KSC TX NSNN trong điều kiện thực hiện DVCTT qua KBNN Chƣơng 2: Thực trạng công tác KSC TX NSNN trong điều kiện thực hiện DVCTT qua KBNN Hoài Ân, tỉnh Bình Định Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác KSC TX NSNN trong điều kiện thực hiện DVCTT qua KBNN Hoài Ân, tỉnh Bình Định. e 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƢỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC TRONG ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN DỊCH VỤ CÔNG TRỰC TUYẾN QUA KHO BẠC NHÀ NƢỚC 1. KHÁI QUÁT VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC VÀ CHI THƢỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. Khái niệm và đặc điểm của Ngân sách Nhà nƣớc NSNN là một phạm trù rất đa dạng; nó bao gồm cả phạm trù kinh tế, lịch sử và gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của NN.
NN là cơ quan quyền lực thực hiện duy trì và phát triển xã hội, quy định các khoản thu có tính bắt buộc cho các đối tƣợng trong xã hội để đảm bảo chi tiêu cho hoạt động của bộ máy NN. Hiện nay, khái niệm về NSNN đƣợc hiểu dƣới nhiều góc độ khác nhau. Dƣới góc độ hình thức, NSNN là một bản dự toán thu, chi ngân sách hàng năm của NN do CP lập ra, đệ trình Quốc hội quyết định và giao cho CP thực hiện. Dƣới góc độ về thực thể, NSNN bao gồm các nguồn thu và những khoản chi cụ thể.
Các nguồn thu và khoản chi đều đƣợc nộp vào và xuất ra từ cùng một quỹ tiền tệ. Thu, chi của quỹ này có quan hệ ràng buộc nhau gọi là cân đối ngân sách, đây là một cân đối lớn trong nền kinh tế thị trƣờng. Theo Luật NSNN số 83/2015/QH13 thông qua ngày 25/6/2015 đƣợc định nghĩa tại Khoản 14, Điều 4 nhƣ sau: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của NN được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan NN có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của NN.” 27] Theo Điều 5, Chƣơng 1 Luật NSNN số 83/2015/QH13, NSNN ao gồm Thu NSNN và Chi NSNN.[27] e 8 Từ những phân tích về khái niệm NSNN, có thể thấy NSNN có những đặc điểm sau: Thứ nhất, NSNN là một kế hoạch tài chính khổng lồ nhất của một quốc gia cần đƣợc thông qua bởi quốc hội trƣớc hi thi hành. Đặc điểm này cho ta thấy việc thiết lập NSNN không chỉ liên quan đến nghiệp vụ mà còn liên quan đến pháp lý, do đó nó vừa phản ánh các hành vi kinh tế vừa thể hiện các hành vi pháp lý của chủ thể có thẩm quyền.
Thứ hai, NSNN không chỉ là một bản kế hoạch tài chính mà còn là một đạo luật. Theo thông lệ, sau khi bản dự toán NSNN đã đƣợc soạn thảo bởi cơ quan hành pháp thì nó sẽ đƣợc chuyển sang cho cơ quan lập pháp xem xét quyết định và công bố dƣới hình thức một đạo luật để thi hành. Thứ ba, NSNN là kế hoạch tài chính của cả một đất nƣớc và đƣợc trao cho CP tổ chức thực hiện thông qua sự giám sát của quốc hội. Điều này nhằm kiểm soát nguy cơ lạm quyền của cơ quan hành pháp trong quá trình thực thi NSNN.
Thứ tư, NSNN đƣợc thiết lập và thực thi hoàn toàn vì mục tiêu chung cho toàn quốc gia, do đó nó không phân biệt ngƣời hƣởng thụ các lợi ch đó là ai, thuộc thành phần kinh tế nào trong xã hội. Thứ năm, NSNN luôn phản ánh mối tƣơng quan giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp trong quá trình xây dựng và thực hiện NSNN. Theo đó, cơ quan lập pháp ban hành ra NSNN dựa trên sự xây dựng từ CP, sau đó CP là ngƣời trực tiếp thi hành ngân sách này dƣới sự giám sát của cơ quan lập pháp. Khái niệm và đặc điểm của chi thƣờng xuyên Ngân sách Nhà nƣớc Theo quy định tại Luật NSNN năm 2015, “Chi TX là nhiệm vụ chi của NSNN nhằm bảo đảm hoạt động của bộ máy NN, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, hỗ trợ hoạt động của các tổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ TX của NN về phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.” 27] Chi TX NSNN là quá trình phan phối, sử dụng vốn từ quỹ NSNN để e 9 đáp ứng cho các nhu cầu chi gắn với viẹc thực hiẹn các nhiẹm vụ của NN và mọt số dịch vụ cong cọng hác mà NN cung ứng.
Chi TX NSNN có các đặc điểm cơ bản sau [27]: Thứ nhất, chi TX NSNN là những khoản chi có tính ổn định cao và cần thiết để duy trì hoạt động của một bộ máy NN. Chính vì vậy, những khoản chi này lặp lại TX và mang tính ổn định rất cao; bởi vì điều này sẽ giúp bộ máy NN duy trì hoạt động và thực hiện các chức năng s n có. Thứ hai, những khoản chi TX NSNN chỉ tác động trong một thời gian ngắn và gắn với tiêu dùng xã hội. Đây là đặc điểm mà xét trên cơ cấu của chi NSNN trong từng niên độ và mục đ ch sử dụng cuối cùng của vốn cấp phát.
Thứ ba, chi TX NSNN có phạm vi và mức độ gắn bó chặt chẽ với cơ cấu tổ chức của bộ máy NN và quyết định lựa chọn cung ứng hàng hoá công cộng của NN. Với mục đ ch của khoản chi TX là đảm bảo bộ máy NN đƣợc hoạt động liên tục và thực hiện các chức năng của mình, do đó các khoản chi này sẽ có sự gắn bó chặt chẽ với cơ cấu tổ chức và kế hoạch hoạt động của bộ máy NN. Vai trò và phân loại của chi thƣờng xuyên Ngân sách Nhà nƣớc Chi TX đảm bảo cho bộ máy NN của một quốc gia hoạt động bình thƣờng nhằm thực hiện tốt chức năng quản lý NN, đảm bảo an ninh và sự toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia. Thực hiện tốt nhiệm vụ chi TX NSNN đóng vai trò quan trọng trong việc phân phối và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính của một quốc gia, tạo điều kiện giải quyết tốt mối quan hệ giữa t ch lũy và tiêu dùng trong một quốc gia.
Chi TX NSNN hiệu quả sẽ góp phần tăng t ch lũy vốn NSNN để chi cho những hoạt động khác, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển, nâng cao niềm tin của nhân dân vào vai trò quản lý điều hành của bộ máy NN. Phân loại các khoản chi TX NSNN là việc sắp xếp các khoản chi NSNN có cùng tính chất, cùng mục đ ch thành các loại chi. Chi TX NSNN e 10 bao gồm chi TX của Ngân sách trung ƣơng và chi TX của Ngân sách địa phƣơng.[27] Chi TX của Ngân sách trung ƣơng: Là chi TX của các bộ, cơ quan ngang ộ, cơ quan thuộc CP, cơ quan khác ở trung ƣơng đƣợc phân cấp trong các lĩnh vực, gồm: – Quốc phòng; – An ninh và trật tự, an toàn xã hội; – Sự nghiệp giáo dục - đào tạo và dạy nghề; – Sự nghiệp khoa học và công nghệ; – Sự nghiệp y tế, dân số và gia đình; – Sự nghiệp văn hóa thông tin; – Sự nghiệp phát thanh, truyền hình, thông tấn; – Sự nghiệp thể dục thể thao; – Sự nghiệp bảo vệ môi trƣờng; – Các hoạt động kinh tế; – Hoạt động của các cơ quan quản lý NN, tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị - xã hội; hỗ trợ hoạt động cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp theo quy định của pháp luật; – Chi bảo đảm xã hội, bao gồm cả chi hỗ trợ thực hiện các chính sách xã hội theo quy định của pháp luật; – Các khoản chi hác theo quy định của pháp luật. Chi TX của Ngân sách địa phƣơng: Là chi TX của các cơ quan ở địa phƣơng đƣợc phân cấp trong các lĩnh vực, gồm: – Sự nghiệp giáo dục – đào tạo và dạy nghề; – Sự nghiệp khoa học và công nghệ; – Quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phần giao địa e 11 phƣơng quản lý; – Sự nghiệp y tế, dân số và gia đình; – Sự nghiệp văn hóa thông tin; – Sự nghiệp phát thanh, truyền hình; – Sự nghiệp thể dục thể thao; – Sự nghiệp bảo vệ môi trƣờng; – Các hoạt động kinh tế; – Hoạt động của các cơ quan quản lý NN, tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị - xã hội; hỗ trợ hoạt động cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp theo quy định của pháp luật; – Chi bảo đảm xã hội, bao gồm cả chi thực hiện các chính sách xã hội theo quy định của pháp luật; – Các khoản chi hác theo quy định của pháp luật.
CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƢỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC TRONG ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN DỊCH VỤ CÔNG TRỰC TUYẾN QUA KHO BẠC NHÀ NƢỚC 1. Dịch vụ công trực tuyến trong công tác kiểm soát chi thƣờng xuyên Ngân sách Nhà nƣớc qua Kho bạc Nhà nƣớc 1. Khái niệm Dịch vụ công trực tuyến DVCTT là các dịch vụ hành ch nh công đƣợc cung cấp cho ngƣời dân, DN trong môi trƣờng mạng internet. Cùng với việc sử dụng công nghệ thông tin và viễn thông, DVC điện tử đáp ứng phần lớn nhu cầu của mọi công dân và hầu hết các tổ chức mọi lúc và ở bất cứ nơi đâu có ết nối mạng internet, vƣợt qua mọi rào cản về địa lý, không gian và thời gian.
Nhƣ vậy, DVCTT đƣợc hiểu nhƣ sau: DVCTT là một trong những dịch vụ hành chính công và các dịch vụ khác của cơ quan NN nhằm mục đích cung cấp cho các đơn vị, cá nhân trong môi trường mạng.[8] e 12 Hiện nay, NN quy định về các mức độ DVCTT của cơ quan hành chính NN cung cấp cho đơn vị, cá nhân trong môi trƣờng mạng, bao gồm các mức nhƣ sau [8]: - DVCTT mức độ 1: là dịch vụ ảo đảm cung cấp đầy đủ các thông tin về TTHC và các van ản có lien quan đến TTHC đó. - DVCTT mức độ 2: cung cấp đầy đủ thông tin cơ ản nhƣ DVCTT mức độ 1; cung cấp đầy đủ các biểu mẫu điện tử hông tƣơng tác đồng thời cho phép NSD tải về để khai báo sử dụng. Hồ sơ in từ biểu mẫu điện tử không tƣơng tác sau hi hai áo theo quy định sẽ đƣợc chấp nhận nhƣ đối với hồ sơ khai báo trên các biểu mẫu giấy thông thƣờng.