CHƯƠNG 1 CÁC VẤN ðỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ AN SINH XÃ HỘI 1. KHÁI QUÁT VỀ AN SINH XÃ HỘI 1. Khái niệm - Theo Ngân hàng Thế giới (WB): ASXH là những biện pháp công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia ñình và cộng ñồng ñương ñầu và kiềm chế ñược nguy cơ tác ñộng ñến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu nhập. - Theo quan niệm của Tổ chức Lao ñộng quốc tế (ILO): ASXH là hình thức bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một số biện pháp ñược áp dụng rộng rãi ñể ñương ñầu với những khó khăn, các cú sốc về kinh tế và xã hội làm mất hoặc suy giảm nghiêm trọng thu nhập do ốm ñau, thai sản, thương tật do lao ñộng, mất sức lao ñộng hoặc tử vong, cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia ñình nạn nhân có trẻ em.
- Hiệp hội An sinh quốc tế (ISSA) coi ASXH là thành tố của hệ thống chính sách công liên quan ñến sự bảo ñảm an toàn cho tất cả các thành viên xã hội chứ không chỉ có công nhân. Những vấn ñề mà ISSA quan tâm nhiều trong hệ thống ASXH là chăm sóc sức khoẻ thông qua bảo hiểm y tế; hệ thống BHXH, chăm sóc tuổi già; phòng chống tai nạn lao ñộng, bệnh nghề nghiệp; trợ giúp xã hội. Ở Việt Nam trong những năm qua ñã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn ñề ASXH, góp phần rất lớn trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH ở nước ta. - Trong “Chiến lược phát triển ASXH giai ñoạn 2011-2020” của Việt Nam nêu ra: “ASXH là sự ñảm bảo mà xã hội cung cấp cho mọi thành viên trong xã hội thông qua việc thực thi hệ thống các cơ chế, chính sách và biện pháp can thiệp trước nguy cơ, rủi ro có thể dẫn ñến suy giảm hoặc mất ñi 10 nguồn sinh kế”.
- Theo quan ñiểm của GS.TS Mai Ngọc Cường lại cho rằng, ñể thấy hết ñược bản chất của an sinh xã hội, chúng ta phải tiếp cận ASXH theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp của khái niệm này. + Theo nghĩa rộng: ASXH là sự ñảm bảo thực hiện các quyền ñể con người ñược an bình, ñảm bảo an ninh, an toàn trong xã hội. + Theo nghĩa hẹp: ASXH là sự ñảm bảo thu nhập và một số ñiều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia ñình và cộng ñồng khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do họ bị giảm hoặc mất khả năng lao ñộng hoặc mất việc làm; cho những người già cô ñơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, người bị thiên tai dịch hoạ. Còn có rất nhiều quan ñiểm khác xoay quanh vấn ñề ASXH do các học giả, các nhà nghiên cứu ñưa ra.
Nhưng theo tác giả quan ñiểm của TS. Bùi Sỹ Lợi – Phó chủ nhiệm ủy ban các vấn ñề xã hội của Quốc hội là ñầy ñủ hơn: “ASXH là sự bảo vệ của Nhà nước và cộng ñồng ñối với người "yếu thế" trong xã hội bằng các biện pháp khác nhau nhằm hỗ trợ cho các ñối tượng khi họ bị suy giảm khả năng lao ñộng, giảm sút thu nhập hoặc gặp rủi ro, bất hạnh rơi vào cảnh nghèo ñói, hoặc là ốm ñau, thai sản, TNLð, BNN, thất nghiệp, mất sức lao ñộng, già yếu,.; ñồng thời qua ñó, ñộng viên khuyến khích họ tự lực vươn lên giải quyết vấn ñề của chính mình“. Tác giả chọn quan ñiểm của TS. Bùi Sỹ Lợi – Phó chủ nhiệm ủy ban các vấn ñề xã hội của Quốc hội làm ñịnh hướng chính cho nghiên cứu luận văn của mình về công tác ASXH trên ñịa bàn huyện KonPlông.
Từ khái niệm ASXH trên, có thể thấy bản chất sâu xa của ASXH là góp phần ñảm bảo thu nhập và ñời sống cho các công dân trong xã hội với phương thức hoạt ñộng là thông qua các biện pháp công cộng, nhằm tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong xã hội và vì vậy mang tính xã hội và 11 tính nhân văn sâu sắc. Ý nghiã của an sinh xã hội Thứ nhất, An sinh xã hội là biểu hiện rõ rệt của quyền con người ñã ñược Liên hợp quốc thừa nhận. + Là trụ cột cơ bản, cần thiết cho sự bảo ñảm, ñó là BHXH. Chỉ khi có một hệ thống BHXH hoạt ñộng hiệu quả thì mới có một nền ASXH vững mạnh.
Thông qua trợ cấp BHXH, NLð có ñược một khoản thu nhập bù ñắp hoặc thay thế cho những khoản thu nhập bị giảm hoặc mất trong những trường hợp họ bị giảm hoặc mất khả năng lao ñộng hoặc mất việc làm. + Là sự cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người lao ñộng và các thành viên gia ñình họ, nhằm bảo ñảm cho họ tái tạo ñược sức lao ñộng, duy trì và phát triển nền sản xuất xã hội, ñồng thời phát triển mọi mặt cuộc sống của con người, kể cả phát triển bản thân con người. + Là các loại trợ giúp xã hội (tiền, hiện vật…) cho những người có rất ít hoặc không có tài sản (người nghèo), những người cần sự giúp ñỡ ñặc biệt cho các gánh nặng gia ñình… ASXH cũng khuyến khích, thậm chí bao quát cả những loại trợ giúp như miễn giảm thuế, trợ cấp về ăn, ở, dịch vụ ñi lại… Thứ hai, ASXH thể hiện chủ nghĩa nhân ñạo cao ñẹp. Mỗi người trong xã hội xuất phát từ ñịa vị xã hội, chủng tộc, tôn giáo khác nhau nhưng vượt lên trên tất cả, với tư cách là một công dân, họ phải ñược bảo ñảm mọi mặt ñể phát huy ñầy ñủ những khả năng của mình, không phân biệt ñịa vị xã hội, chủng tộc, tôn giáo.
ASXH tạo cho những người bất hạnh, những người kém may mắn hơn những người bình thường khác có thêm những ñiều kiện, những lực ñẩy cần thiết ñể khắc phục những biến cố, những rủi ro xã hội, có cơ hội ñể phát triển, hoà nhập vào cộng ñồng. ðồng thời, hướng tới một xã hội nhân ái, góp phần tạo nên một cuộc sống công bằng, bình yên. Thứ ba, An sinh xã hội thể hiện truyền thống ñoàn kết, giúp ñỡ lẫn 12 nhau, tương thân tương ái của cộng ñồng. + ASXH thực hiện một phần công bằng và tiến bộ xã hội.
Trên bình diện xã hội, ASXH là một công cụ ñể cải thiện các ñiều kiện sống của các tầng lớp dân cư, ñặc biệt là ñối với những người nghèo khó, những nhóm dân cư “yếu thế” trong xã hội. Trên bình diện kinh tế, ASXH là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng ñồng, ñược thực hiện theo hai chiều ngang và dọc. Sự phân phối lại thu nhập theo chiều ngang là sự phân phối lại giữa những người khoẻ mạnh và người ốm ñau, giữa người ñang làm việc và người ñã nghỉ việc, giữa người chưa có con và những người có gánh nặng gia ñình, ñược thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau: trực tiếp (thuế trực thu, kiểm soát giá cả, thu nhập và lợi nhuận…) hoặc gián tiếp (trợ cấp thực phẩm, cung cấp hiện vật hoặc các dịch vụ công cộng như giáo dục, y tế, nhà ở, giúp ñỡ và bảo vệ trẻ em…). Sự phân phối lại thu nhập theo chiều dọc là sự chuyển giao tài sản và sức mua của những người có thu nhập cao cho những người có thu nhập quá thấp, cho những nhóm người “yếu thế”.
Trên thực tế, phân phối lại theo chiều dọc gặp nhiều khó khăn do ñiều kiện tài chính và tổ chức. Song cũng có một số biện pháp ñể thực hiện một số chế ñộ cho những người có thu nhập thấp thông qua hệ thống ñóng góp: ñược miễn giảm chế ñộ ñóng góp, hoặc ñược người chủ sử dụng lao ñộng (kể cả Nhà nước) ñóng cho hoàn toàn và hệ thống trợ cấp: tỷ lệ trợ cấp của người có thu nhập thấp cao hơn so với những người có thu nhập cao. Sự phân phối theo chiều ngang và theo chiều dọc ñã tạo ra một lưới ASXH. + ASXH góp phần thúc ñẩy tiến bộ xã hội.
Sự phát triển của thế giới trong những năm gần ñây ñặt ra mục tiêu là bảo ñảm những cải thiện nhất ñịnh cho hạnh phúc của mỗi người và ñem lại những lợi ích cho mọi người; bảo ñảm phân phối công bằng hơn về thu nhập và của cải, tiến tới công bằng 13 xã hội; ñạt ñược hiệu quả sản xuất, bảo ñảm việc làm, mở rộng, cải thiện về thu nhập giáo dục, y tế cộng ñồng; giữ gìn và bảo vệ môi trường. Những lưới ñầu tiên của ASXH ñã bảo vệ, giảm bớt sự khó khăn cho họ. Sự phát triển sau này của những lưới khác tạo ra sự ña dạng trong ASXH, giải quyết ñược những nhu cầu khác nhau của nhiều nhóm người trong những trường hợp rủi ro xã hội. Tuy nhiên, ASXH không loại trừ ñược sự nghèo túng mà có tác dụng góp phần ñẩy lùi nghèo túng, góp phần thúc ñẩy tiến bộ xã hội.
+ ASXH là một tất yếu khách quan trong cuộc sống xã hội loài người. Trong bất cứ giai ñoạn phát triển nào của xã hội cũng ñều có những nhóm dân cư, những ñối tượng rơi vào tình trạng không thể tự lo liệu ñược cuộc sống, hoặc gặp sự cố nào ñó trở thành những người “yếu thế” trong xã hội, thì cũng chính trong xã hội ñó lại nẩy sinh những cơ chế hoặc tự phát, hoặc tự giác, thích ứng ñể giúp ñỡ họ. ðây là cơ sở ñể hệ thống ASXH hình thành và phát triển. Tất nhiên, ASXH là một quá trình phát triển toàn diện, từ ñơn giản ñến phức tạp, ngày càng phong phú, ña dạng.
Chức năng của an sinh xã hội Một là, Bảo ñảm thu nhập ở mức tối thiểu. ðây là chức năng cơ bản nhất của an sinh xã hội, có vai trò cung cấp mức tối thiểu thu nhập (mức sàn) bảo ñảm quyền sống tối thiểu của con người, bao gồm các quyền về ăn, sức khỏe, giáo dục, nhà ở và một số dịch vụ xã hội cơ bản nhằm bảo vệ con người khỏi bị ñói nghèo do không có thu nhập tạm thời hoặc vĩnh viễn. Hai là, Nâng cao năng lực quản lý rủi ro.