Chương 1. Giới thiệu Chương này nêu lý do chọn đề tài, tổng quan các nghiên cứu trước, mục tiêu nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi giới hạn nghiên cứu, phương pháp, ý nghĩa của nghiên cứu. Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước Trình bài cơ sở lý thuyết về vốn lưu động chính sách vốn lưu động, hiệu quả tài chính và tóm tắt các nghiên cứu trước, nêu nhận định của tác giả và hướng nghiên cứu tiếp theo Chương 3. Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày về phương pháp nghiên cứu, nguồn dữ liệu, cách thu thập dữ liệu và kiểm tra sự phù hợp của dữ liệu.
Kết quả nghiên cứu Trình bày các kết quả hồi quy, trả lời các câu hỏi nghiên cứu Chương 5. Kết luận – kiến nghị Chương này tóm tắt kết quả nghiên cứu và các hàm ý cho chính sách vốn lưu động LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU TRƯỚC Trong chương 2 này sẽ trình bày phần lý thuyết tổng quan về tác động của chính sách vốn lưu động đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp 2.1 Định nghĩa vốn lưu động và chính sách vốn lưu động “Vốn lưu động” là thuật ngữ dùng để chỉ những dòng vốn cần thiết đáp ứng nhu cầu về tiền của các hoạt động thường ngày của một doanh nghiệp. Dòng tiền này có tính chất tuần hoàn, hay nói cách khác nó dùng để nói đến những tài sản ngắn hạn mà có khả năng thay đổi loại hình từ dạng tài sản này dạng tài sản khác tùy thuộc vào tốc độ luân chuyển, chẳng hạn một tài sản ngắn hạn khởi đầu dưới hình thái tiền, rồi thay đổi thành nguyên vật liệu, kế đến chuyển sang sản phẩm dở dang và thành phẩm, doanh số và cuối cùng lại được ghi nhận là tiền mặt thu được từ khách hàng. Vốn lưu động về mặt thống kê có thể được xem như là chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và nợ phải trả ngắn hạn (không tính đến nợ vay ngắn hạn).
Tuy nhiên, dựa trên tính chất tuần hoàn và luôn biến đổi của vốn lưu động, theo một cách tiếp cận khác, vốn lưu động còn có thể được xem như là khoản mục để cân bằng giữa hoạt động tạo ra doanh thu và hoạt động thu những nguồn lực đầu tư vào cho sản xuất kinh doanh. Cách tiếp cận này kết nối vốn lưu động một cách trực tiếp với chu kỳ chuyển hóa tiền mặt của doanh nghiệp. Thuật ngữ vốn luân chuyển và vốn lưu động được dùng tương hỗ nhau, dường như hai thuật ngữ này luôn được dùng thay thế cho nhau, khác nhau có thể là do cách dịch hay do phương thức sử dụng riêng của từng nhà phân tích mà điều chỉnh các thành tố của nó. Tuy nhiên, do thuật ngữ vốn luân chuyển thường được dùng để chỉ tài sản ngắn hạn được tài trợ bằng nguồn dài hạn.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Vốn lưu động là thước đo cho cả hiệu suất và sức mạnh tài chính ngắn hạn của doanh nghiệp. Khả năng quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp càng tốt thì nhu cầu vay nợ càng giảm. Ngay cả khi doanh nghiệp có tiền nhàn rỗi thì việc quản lý vốn lưu động cũng rất cần thiết vì nó đảm bảo rằng lượng vốn nhàn rỗi sẽ được đầu tư một ghi cách hiệu quả nhất cho nhà đầu tư. Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, sẽ là không thừa nếu các nhà đầu tư xem xét đến hiệu quả quản lý vốn lưu động của các công ty.
Mỗi doanh nghiệp có thể đưa ra một con số doanh thu tuyệt vời, giá trị tài sản lớn, quy mô vốn đồ sộ …. Tuy nhiên độ lớn của con số này không nói lên tất cả và cũng không có nghĩa là doanh nghiệp đang nắm giữ rất nhiều tiền trong tay. Tiền của doanh nghiệp có thể đọng ở các khoản thu, vốn doanh nghiệp biết đâu lại có lượng vốn là các khoản phải trả … Vì vậy xem xét một cách cẩn trọng các thông tin, chỉ số của doanh nghiệp trong đó có hoạt động quản lý vốn lưu động là quản trị các thành phần cấu thành của nó bao gồm các khoản mục phải thu của khách hàng, phải trả khách hàng, hàng tồn kho và tiền mặt cụ thể như sau: 2.1 Chính sách quản trị tiền mặt Việc quản trị tiền mặt là quá trình quản lý lượng tiền mặt tại quỹ và tiển mặt trong tài khoản thanh toán của ngân hàng, kiểm soát chặt chẽ tình hình chi tiêu tiền mặt, xác định nhu cầu tiền mặt của doanh nghiệp trong từng giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh, từng bước khắc phục tình trạng thừa thiếu lượng tiền trong ngắn hạn và dài hạn. Để quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường, các doanh nghiệp cần phải có một lượng tiền mặt dự trữ.
Nếu dự trữ quá nhiều so với nhu cầu thực tế sẽ làm vốn tiền mặt bị ứ đọng. Mặc khác, lạm phát ngày càng tăng sẽ làm giảm sút nhanh chóng sức mua của dòng tiền. Ngược lại, nếu dự trữ quá ít sẽ làm giảm khả năng thanh toán, ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Ở trạng thái cân bằng, tất cả các tài sản có cùng mức độ rủi ro sẽ tạo ra cùng một lợi nhuận biên mong đợi.
Lợi ích của việc nắm giữ trái phiếu kho bạc là lãi suất còn lợi ích của việc nắm giữ tiền mặt là tính thanh khoản trong thanh toán. Ở trạng thái cân bằng, giá trị biên của khả năng thanh khoản này bằng với giá trị biên của lại suất trên trái phiếu kho bạc. Tuy nhiên, giá trị của khả năng thanh khoản giảm xuống khi lượng tiền mặt được nắm giữ tăng lên. Do đó, một giám đốc tài chính sẽ quyết định nắm giữ một lượng tiền mặt mà ở đó giá trị biên của khả năng thanh khoản bằng với giá trị biên của lãi suất trái phiếu.
Khi lựa chọn tiền mặt và trái phiếu ngắn hạn, nhiệm vụ của giám đốc tài chính cũng giống như của giám đốc sản xuất. Nếu tiền mặt được đầu tư vào chứng khoán, nó sẽ tạo ra lợi nhuận. Mặt khác, công ty không thể sử dụng những chứng khoán này để thanh toán hóa đơn. Nếu bán chúng để lấy tiền trả nợ, công ty phải gánh chịu các chi phí giao dịch cao.
Giám đốc tài chính phải cân đối giữa chi phí nắm giữ tiền mặt (lãi suất bị mất đi) và lợi ích (chi phí giao dich tiết kiệm được). Đối với những công ty nhỏ, sự cân đối này có thể rất quan trọng nhưng với công ty lớn, chi phí giao dịch của việc mua và bán chứng khoán lại không đáng kể so với chi phí cơ hội của việc nắm giữ một lượng tiền nhàn rỗi. Tiền mặt cần cho công việc kinh doanh, nhu cầu này liên quan đến các hoạt động thu chi tiền thông thường của công ty. Công ty chi tiền để, trả lương, thanh toán các khoản nợ, nộp thuế và trả cổ tức.
Tiền được thu từ việc bán hàng, các tài sản và từ tài trợ mới. Dòng tiền ra và vào thường không xảy ra đồng thời. Nếu duy trì một số dư tiền quá ít, công ty có thể rơi vào tình trạng thiếu hụt. Khi đó, công ty phải bán chứng khoán hoặc đi vay và phải chịu chi phí giao dịch.
Các công ty lớn giữ một lượng tiền mặt đáng kể vì tiền mặt được giữ trong những tài khoản không lãi suất như một khoản bù đắp cho các dịch vụ mà ngân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 hàng cung cấp. Một số dư yêu cầu tối thiểu ở các ngân hàng cung cấp dịch vụ tín dụng có thể làm giảm số tiền mặt nắm giữ của công ty.2 Chính sách quản trị phải thu của khách hàng (quản trị tín dụng): Khi một công ty bán hàng cho một công ty khác, thường thì họ không được thanh toán ngay. Những hóa đơn chưa thanh toán này được gọi là tín dụng thương mại chiếm phần chủ yếu trên tài khoản phải thu của khách hàng, phần còn lại là tín dụng tiêu dùng. Các công ty không thanh toán tiền mua hàng ngay, tức là trên thực tế đã vay tiền của các nhà sản xuất để đáp ứng nhu cầu tài chính ngắn hạn của mình.
Việc quản trị chính sách tín dụng thương mại theo các điều kiện sau: 1. Doanh nghiệp đề nghị bán hàng hay dịch vụ của mình với điều kiện với phục vụ cho khách hàng. Thời gian để khách hàng thanh toán tiền mua hàng là phù hợp. Các chính sách khuyến mãi, giảm giá, chiết khấu cho khách h àng 2.
Doanh nghiệp cần phải đảm bảo về số tiền khách hàng nợ (chỉ cần khách hàng ký vào biên bản nhận hay buộc khách hàng ký vào một loại giấy nhận nợ chính thức khác) 3. Phân loại khách hàng: Để tìm hiểu, doanh nghiệp có cần tìm hiểu hồ sơ quá khứ hay các báo cáo tài chính đã qua của khách hàng hay doanh nghiệp dựa vào chứng nhận của ngân hàng 4. Doanh nghiệp chuẩn bị dành cho từng khách hàng với những hạn mức tín dụng phù hợp để tránh rủi ro. Doanh nghiệp có từ chối cấp tín dụng cho các khách hàng mà doanh nghiệp nghi ngờ hay doanh nghiệp chấp nhận rủi ro có một vài món nợ khó đòi và điều này xem như là chi phí của việc xây dựng một nhóm khách hàng thường xuyên 5.
Các biện pháp mà doanh nghiệp áp dụng thu nợ khi đến hạn. Doanh nghiệp theo phải dõi thanh toán chi tiết LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Chính sách quản trị hàng tồn kho Hàng tồn kho là tài sản lưu động cũng không kém phần quan trọng vì đây là một trong những nguồn cơ bản tạo ra doanh thu cho doanh nghiệp. Hàng tồn kho bao gồm: nguyên vật liệu, sản phẩm dỡ dang hoặc thành phẩm đang chờ bán và đang vận chuyển đi. Hàng tồn kho mang đậm tính chất ngành nghề và không phải tồn kho thấp là tốt hay cao là xấu.
Vấn đề ở chỗ mức tồn kho như thế nào là hợp lý, vừa giảm được chi phí vừa đảm bảo khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Do đó rất khó để xác định mức tồn kho bao nhiêu là vừa vì tùy đặc điểm ngành nghề, tùy chiến lược kinh doanh mà mỗi doanh nghiệp sẽ có mức tồn kho riêng DỮ TRỮ Quá ít Quá nhiều Thiếu hàng Thiếu nguyên Nguyên liệu bán liệu thừa Hàng thừa Mất khách Ngừng sản Chi phí dự trữ Đọng vốn hàng xuất tăng GIẢM LỢI NHUẬN Sơ Đồ 2.1: Trình bày tóm tắt hậu quả của việc tồn kho hàng hóa quá ít hoặc quá nhiều Nguồn: http://nhipcaudautu.aspx?id=3020 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.