phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số vấn đề khái quát về tƣ duy và tƣ duy toán học 1. Khái niệm tư duy 1. Đặc điểm của tư duy 1.
Tư duy toán học và một số đặc điểm 1. Năng lực và năng lực giải toán 1. Năng lực Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 4 http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Năng lực giải toán 1.
Mối liên quan giữa việc rèn luyện các thao tác tư duy và phát triển năng lực giải toán 1. Dạy học giải bài tập 1. Vai trò và chức năng của bài tập toán 1. Đặc điểm của dạy học giải bài tập toán 1.Sơ đồ giải bài toán của G.Polya và sự liên quan tới việc thực hiện các thao tác tư duy 1.
Rèn luyện thao tác tƣ duy cho học sinh để phát triển năng lực giải toán thông qua dạy giải bài tập 1. Hoạt động trí tuệ của học sinh trong quá trình giải bài tập toán 1. Rèn luyện thao tác tư duy cho học sinh thông qua giải bài tập toán 1. Thực trạng của việc rèn luyện thao tác tƣ duy cho học sinh trong dạy học giải bài tập toán học ở một số trƣờng trung học phổ thông hiện nay (qua khảo sát thực tiễn).1 Mục đích khảo sát 1.2 Nội dung, tổ chức điều tra khảo sát 1.3 Kết quả diều tra khảo sát 1.
Kết luận chƣơng 1 Chƣơng 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN CÁC THAO TÁC TƢ DUY CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI TOÁN QUA GIẢNG DẠY CHƢƠNG "PHƢƠNG PHÁP TỌA ĐỘ TRONG KHÔNG GIAN" 2. Một số nguyên tắc cần quán triệt khi đề xuất các biện pháp. Một số biện pháp rèn luyện các thao tác tƣ duy, góp phần phát triển năng lực giải toán. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 5 http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Biện pháp 1: Tập luyện cho học sinh khả năng phân tích bài toán đã cho để tìm hướng giải và tổng hợp để trình bày lời giải bài toán 2. Biện pháp 2: Tập luyện cho học sinh biết phân tích bài toán đã cho thành nhiều bài toán nhỏ và giải quyết các bài toán đó để có được lời giải bài toán ban đầu. Biện pháp 3: Tập luyện cách nhìn bài toán dưới nhiều góc độ để tìm được nhiều cách giải. Biện pháp 4: Tạo cơ hội cho học sinh luyện tập thao tác tương tự hóa trong quá trình giải toán.
Biện pháp 5: Rèn luyện cho học sinh thao tác khái quát hóa đề xuất bài toán mới trên cơ sở khai thác bài toán đã cho. Kết luận chƣơng 2 Chƣơng 3 THỬ NGHIỆM SƢ PHẠM 3. Mục đích thử nghiệm sư phạm 3. Nội dung thử nghiệm sư phạm 3.
Tổ chức thử nghiệm sư phạm 3. Kết quả thử nghiệm sư phạm 3. Kết luận chương 3 Kết luận và khuyến nghị Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 6 http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số vấn đề khái quát về tƣ duy và tƣ duy toán học 1.
Khái niệm tư duy Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông: “Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán, suy lý” [19]. Theo Triết học: “Tư duy là sản phẩm cao nhất của cái vật chất được tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, lý luận,… Tư duy xuất hiện trong quá trình hoạt động sản xuất của con người và bảo đảm phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những mối liên hệ hợp với quy luật của thực tại”[1,tr. Theo quan niệm của Tâm lý học: Tư duy là một quá trình tâm lý thuộc nhận thức lý tính, là một mức độ nhận thức mới về chất so với cảm giác và tri giác. Tư duy phản ánh những thuộc tính bên trong, bản chất, những mối liên hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng mà trước đó ta chưa biết [22], [26], [27].
Theo Nguyễn Văn Thuận đã chỉ ra: "Tư duy là một quá trình tâm lý liên quan chặt chẽ với ngôn ngữ, quá trình tìm tòi sáng tạo cái chính yếu, quá trình phản ánh một cách từng phần hay khái quát thực tế trong khi phân tích và tổng hợp nó. Tư duy sinh ra trên cơ sở hoạt động thực tiễn, từ nhận thức cảm tính và vượt xa giới hạn của nó" [21,tr. Phân tích và tổng hợp các ý kiến trên ta có thể hiểu: Tư duy là sản phẩm của bộ não con người và là một quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan. Tư duy là quá trình phát triển năng động và sáng tạo.
Tư duy có vai trò rất to lớn đối với đời sống và hoạt động nhận thức của con người. Tư duy mở rộng giới hạn của nhận thức để đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng và tìm ra những mối quan hệ có quy luật giữa chúng với nhau. Tư duy giúp cho con người chinh phục và cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội và cải tạo bản thân. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 7 http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Đặc điểm của tư duy Theo [23, tr.121-125] thì tư duy có những đặc điểm sau: - Tính có vấn đề: Tư duy nảy sinh từ hiện thực khách quan, từ những tình huống có vấn đề, đó là những bài toán đặt ra trong cuộc sống. Nhưng không phải mọi tác động của thế giới khách quan đều làm nảy sinh tư duy mà chỉ những cái ta chưa biết, đang thắc mắc và có nhu cầu giải quyết. Tình huống có vấn đề là các bài toán đặt ra mâu thuẫn với vốn hiểu biết cũ. Khi ta có nhu cầu giải quyết chúng thì quá trình tư duy bắt đầu.
Tình huống có vấn đề mang tính chủ quan đối với mỗi cá nhân, có nghĩa là cùng một tình huống, nhưng có vấn đề với người này mà không có vấn đề với người khác. Không phải cứ có tình huống có vấn đề là nảy sinh quá trình tư duy mà quá trình tư duy chỉ diễn ra khi cá nhân nhận thức được tình huống có vấn đề và có nhu cầu giải quyết chúng. Đặc biệt hơn là cá nhân đó phải có những tri thức cần thiết liên quan đến vấn đề, đủ để có thể giải quyết được vấn đề sau những cố gắng nhất định. - Tính khái quát: Khái quát là phản ánh những đặc điểm chung nhất của một nhóm sự vật hiện tượng.
Phản ánh khái quát là phản ánh cái chung, cái bản chất của hàng loạt sự vật hiện tượng cùng loại, là sự phản ánh bằng ngôn ngữ, bằng khái niệm và quy luật. Cái khái quát là cái chung, cái bản chất của các sự vật hiện tượng cùng loại và tư duy có khả năng phản ánh chúng. Nhưng không phải mọi cái chung đều mang tính khái quát, bản chất. Đối tượng của tư duy là cái chung nhưng nó cũng hướng tới cái riêng bởi vì cái chung bao giờ cũng được khái quát từ những cái riêng, cụ thể và chúng được biểu hiện qua cái riêng.
Cái riêng tồn tại trong mối liên hệ với cái chung, dựa vào cái chung và có tác dụng soi sáng cái chung. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 8 http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tính gián tiếp: Gián tiếp tức là phải qua các khâu trung gian. Tư duy phản ánh gián tiếp thông qua nhận thức cảm tính, thông qua ngôn ngữ và thông qua kết quả tư duy của người khác (kinh nghiệm xã hội). Tư duy không thể phản ánh được trực tiếp bởi vì nó phản ánh cái bên trong, cái bản chất, những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật.
Những cái này không thể phản ánh trực tiếp được bằng các giác quan. Quá trình tư duy phản ánh dựa vào nguyên liệu do nhận thức cảm tính cung cấp, không có nguyên liệu này thì quá trình tư duy không thể tiến hành được. Tư duy được vận hành trên nền ngôn ngữ và biểu đạt kết quả bằng ngôn ngữ. Ngoài ra tư duy của mỗi cá nhân đều dựa vào kết quả tư duy của loài người, của các cá nhân khác.
- Tư duy của con người có quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ: Tư duy và ngôn ngữ là hai quá trình có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, tư duy bắt đầu khi xuất hiện tình huống có vấn đề nhưng nhờ có ngôn ngữ mà con người nhận thức được tình huống có vấn đề, nhờ có ngôn ngữ mà chủ thể tiến hành được các thao tác tư duy, kết thúc quá trình tư duy đi đến những khái niệm, phán đoán, suy lí phải được biểu đạt bằng ngôn ngữ, đó là các công thức, từ, ngữ, mệnh đề, định lí … - Tư duy có quan hệ chặt chẽ với nhận thức cảm tính: Nhận thức cảm tính là cơ sở, là nơi cung cấp nguyên liệu cho tư duy. Tư duy dựa vào nhận thức cảm tính, không tách rời nhận thức cảm tính và thường bắt đầu bằng nhận thức cảm tính. Dù tư duy có khái quát đến đâu, có trừu tượng đến đâu thì trong nội dung của nó cũng chứa đựng thành phẩm của nhận thức cảm tính. Ngược lại, tư duy và sản phẩm của nó cũng có ảnh hưởng mạnh mẽ, chi phối khả năng phản ánh của nhận thức cảm tính, làm cho nhận thức cảm tính tinh vi, nhạy bén hơn, chính xác hơn, có sự lựa chọn và có ý nghĩa hơn.
Cả nhận thức cảm tính và tư duy đều nẩy sinh từ thực tiễn, lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn kiểm tra tính đúng đắn của nhận thức. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 9 http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tư duy là một quá trình: Tư duy là hoạt động trí tuệ với một quá trình bao gồm bốn bước cơ bản sau [9], [10], [13]: + Xác định vấn đề và diễn đạt nó thành nhiệm vụ tư duy. + Huy động tri thức, liên tưởng và hình thành giả thuyết. + Xác định tính đúng đắn của giả thuyết.
+ Đánh giá kết quả, đưa ra sử dụng. Các thao tác tư duy cơ bản Quá trình tư duy được thực hiện bởi những động tác trí tuệ nhất định, ta gọi là những thao tác tư duy.