lời mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn đƣợc chia thành 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng công tác quản lý thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Chi cục thuế Thành phố Bắc Ninh- Bắc Ninh. Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Chi cục thuế Thành phố Bắc Ninh - Bắc Ninh.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chƣơng 1 LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIÁ TĂNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Cơ sở lý luận về quản lý thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái quát chung về thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm thuế giá trị gia tăng Luật thuế GTGT đƣợc áp dụng tại nƣớc ta từ năm 1999 và gần đây nhất Quốc hội khóa 12 đã ban hành Luật số 13 /2008/QH12, ngày 03/6/2008 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2009 để phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam cũng nhƣ thông lệ quốc tế.
+ Tại Điều 2 luật số 13/2008/QH12 ngày 03/6/2008 của Quốc hội khóa 12 quy định thuế GTGT nhƣ sau: Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng. + Thuế giá trị gia tăng là một sắc thuế do ngƣời mua phải trả khi mua hàng hoá hay thụ hƣởng dịch vụ tỷ lệ với giá trị gia tăng của mỗi khâu lƣu thông hàng hoá dịch vụ Giá trị gia tăng (GTGT) là phần giá trị mới đƣợc tạo ra trong sản xuất kinh doanh. Nó đƣợc xác định bằng chênh lệch giữa tổng giá trị sản xuất và tiêu thụ với tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào tƣơng ứng. Thuế GTGT phải nộp ở mỗi giai đoạn đƣợc tính bằng cách lấy số thuế GTGT đầu ra (tính đƣợc bằng cách lấy thuế suất x giá hàng hoá dịch vụ bán ra) trừ số thuế GTGT đầu vào (tính đƣợc bằng cách lấy thuế suất x giá hàng hoá dịch vụ mua vào).
Đặc điểm của thuế giá trị gia tăng - Thuế GTGT là một sắc thuế thuộc thuế gián thu, một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ và ngƣời tiêu dùng cuối cùng là ngƣời chịu thuế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Thuế GTGT là một sắc thuế duy nhất thu theo phân đoạn chia nhỏ của quá trình sản xuất vì đây là một loại thuế đánh vào GTGT ở tất cả các giai đoạn từ sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng. Đặc điểm này cho thấy thuế GTGT có tính ƣu việt hơn so với các loại thuế gián thu khác và nó khắc phục đƣợc nhƣợc điểm của thuế doanh thu trƣớc đây là “thuế chồng lên thuế”. Ví dụ: Giả sử sản phẩm A bán trên thị trƣờng đƣợc luân chuyển qua các khâu: từ đại lý cấp 1 đến cấp 2 và bán trên thị trƣờng, thuế suất thuế GTGT của mặt hàng A là 10% xem bảng 1.
Bảng tính thuế giá trị gia tăng của hàng hoá Đơn vị tính: triệu đồng Giá Giá bán (chƣa có Số thuế GTGT Cơ sở kinh doanh GTGT mua thuế GTGT) phải nộp (1) (2) (3) (4)=(3)-(2) (5)=(4)x10% Từ nơi sản xuất 180 200 20 2 Đại lý cấp 1 200 250 50 5 Đại lý cấp 2 250 330 80 8 Bán trên thị trƣờng 330 400 70 7 Tổng cộng 210 21 (Nguồn: Phòng Thống kê Thành phố) - Thuế GTGT có tính trung lập cao. + Thuế GTGT không chịu ảnh hƣởng bởi kết quả kinh doanh của ngƣời nộp thuế, do ngƣời nộp thuế chỉ là ngƣời nộp hộ ngƣời tiêu dùng vào ngân sách nhà nƣớc. + Thuế GTGT không bị ảnh hƣởng bởi quá trình tổ chức và phân chia quá trình sản xuất kinh doanh bởi tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn luôn bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng bất kể số giai đoạn nhiều hay ít. + Thuế GTGT có ít mức thuế suất: Thuế GTGT hiện hành có 2 mức thuế suất là 5% và 10% (trừ mức thuế suất 0% cho hàng hóa xuất khẩu).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - Thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn ra trong phạm vi lãnh thổ. Đặc điểm này tạo ra tính trung lập công bằng trong những giao dịch quốc tế thông qua việc không thu thuế đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu nhƣng đánh thuế đối với hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu. Vai trò của thuế giá trị gia tăng Sau gần 20 năm Luật thuế giá trị gia tăng kể từ ngày 01/01/1999, đƣợc Chủ tịch nƣớc Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam công bố theo lệnh số 57 L/CTN ngày 22/05/1997 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999, thuế giá trị gia tăng đã phát huy đƣợc tác dụng đối với nên kinh tế nói chung và các cơ sở kinh doanh nói riêng. Đồng thời thuế giá trị gia tăng có tác dụng rất lớn trong công cuộc phát triển sản xuất theo hƣớng công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nƣớc phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế.
Điều này đƣợc thể hiện qua các vai trò sau: + Thuế giá trị gia tăng giúp nhà nƣớc kiểm soát đƣợc hoạt động, sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa nhờ kiểm soát đƣợc hệ thống hóa đơn, chứng từ, khắc phục đƣợc nhƣợc điểm của thuế doanh thu là trốn thuế. Qua đó, còn cung cấp cho công tác nghiên cứu, thống kê những số liệu quan trọng. + Thuế giá trị gia tăng không trùng lắp nên khuyến khích các tổ chức, cá nhân bỏ vốn đầu tƣ phát triển sản xuất, kinh doanh, khuyến khích chuyên môn hoá, hợp tác hoá sản xuất, phù hợp với định hƣớng phát triển kinh tế của nƣớc ta trong thời gian tới. + Thuế giá trị gia tăng có tác dụng điều tiết thu nhập của nền kinh tế (điều tiết gián tiếp) thông qua điều tiết phần thu nhập của tổ chức, cá nhân đƣợc đƣa ra tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng, qua đó điều tiết sản xuất, tiêu dùng, trên cơ sở đó điều tiết nền kinh tế.
góp phần lành mạnh hóa nền kinh tế, tạo nên sự cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ thể khi nó bắt buộc các chủ thể phải sử dụng hệ thống hóa đơn chứng từ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 + Thuế giá trị gia tăng là khoản thu quan trọng của Ngân sách nhà nƣớc. Do đối tƣợng điều chỉnh của thuế giá trị gia tăng là vô cùng rộng, chỉ có một số ít đối tƣợng không thuộc diện chịu thuế (26 nhóm theo Luật thuế giá trị gia tăng hiện hành) đó là: sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi của nông dân tự sản xuất, tự bán ra, sản phẩm muối, các dịch vụ không mang tính chất kinh doanh vì lợi nhuận, các dịch vụ công cộng, dịch vụ y tế, văn hoá, giáo dục, đào tạo, thông tin đại chúng… cho nên thuế giá trị gia tăng tạo đƣợc nguồn thu lớn và tƣơng đối ổn định cho Ngân sách Nhà nƣớc. + Thuế giá trị gia tăng khuyến khích xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ thông qua áp dụng thuế suất 0%, doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ không những không phải chịu thuế giá trị gia tăng ở khâu xuất khẩu mà còn đƣợc hoàn toàn bộ số thuế đầu vào đã thu ở khâu trƣớc nên có tác dụng giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo điều kiện cho hàng xuất khẩu có thể cạnh tranh thuận lợi trên thị trƣờng quốc tế.
+ Thuế GTGT đƣợc thực hiện thống nhất và chặt chẽ theo nguyên tắc căn cứ vào hoá đơn mua, bán hàng để khấu trừ số thuế đã nộp ở khâu trƣớc. Điều đó có nghĩa là, nếu không có hoá đơn mua hàng ghi rõ số thuế GTGT đã nộp ở khâu trƣớc thì không đƣợc khấu trừ thuế. Vì vậy, thuế GTGT khuyến khích các cơ sở sản xuất kinh doanh khi mua hàng hoá phải đòi hỏi hoá đơn, và khi bán hàng phải có hoá đơn theo đúng quy định. Với nguyên tắc thuế thu ở khâu sau đƣợc khấu trừ số thuế đã nộp ở khâu trƣớc, thuế GTGT sẽ góp phần hạn chế đƣợc những sai sót, gian lận trong việc ghi chép hoá đơn (nhƣ ghi nhiều hơn hoặc ít hơn so với số thực trả hoặc thực thu.
Hoạt động mua - bán hàng hoá, cung cấp lao vụ, dịch vụ có hoá đơn, chứng từ đƣợc đƣa vào nề nếp thành thói quen trong nền kinh tế sẽ là tiền đề cho việc tin học hoá quá trình quản lý SXKD, hạn chế bớt những sai sót, tiêu cực và mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế. Thúc đẩy thực hiện chế độ hạch toán kế toán; sử dụng hoá đơn, chứng từ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chống thất thu thuế đạt hiệu quả cao. Việc khấu trừ thuế giá trị gia tăng đƣợc thực hiện căn cứ trên hoá đơn mua LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 vào đã thúc đẩy doanh nghiệp hạch toán đầy đủ doanh số chƣa có thuế, thuế giá trị gia tăng đầu ra, thuế giá trị gia tăng đầu vào và thực hiện tốt chế độ hoá đơn chứng từ, hạch toán kế toán. + Nâng cao đƣợc tính tự giác trong việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của ngƣời nộp thuế.
Thông thƣờng, trong chế độ kê khai nộp thuế GTGT, cơ quan thuế tạo điều kiện cho cơ sở SXKD tự kiểm tra, tính thuế, kê khai và nộp thuế. Từ đó, tạo tâm lý và cơ sở pháp lý cho đơn vị kinh doanh không phải hiệp thƣơng, thoả thuận về mức doanh thu, mức thuế với cơ quan thuế. Việc kiểm tra thuế GTGT cũng có mặt thuận lợi vì đã buộc ngƣời mua, ngƣời bán phải nộp và lƣu giữ chứng từ, hoá đơn đầy đủ nên việc thu thuế tƣơng đối sát với hoạt động kinh doanh từ đó tập trung đƣợc nguồn thu thuế GTGT vào ngân sách nhà nƣớc ngay từ khâu sản xuất và thu thuế ở khâu sau còn kiểm tra đƣợc việc tính thuế, nộp thuế ở khâu trƣớc nên hạn chế thất thu về thuế. + Thuế GTGT góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế ở nƣớc ta, phù hợp với thông lệ quốc tế, thúc đẩy hợp tác kinh tế giữa các nƣớc trong khu vực và trên thế giới.
Qua những vai trò của thuế GTGT ta thấy, thuế giá trị gia tăng là một sắc thuế tiên tiến, việc áp dụng thuế giá trị gia tăng khắc phục nhƣợc điểm của thuế doanh thu là “thuế chồng lên thuế”.