Tổng quan nghiên cứu

Hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi tại Việt Nam chiếm diện tích khoảng 1,2 triệu ha, tương đương 3,5% tổng diện tích tự nhiên toàn quốc, phân bố tập trung chủ yếu tại các khu vực Đông Bắc, Tây Bắc và Bắc Trung Bộ. Trong đó, dải Karst khu vực Bắc Trường Sơn thuộc huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An sở hữu tính đa dạng sinh thái đặc sắc nhưng đang phải đối mặt với nguy cơ suy thoái nghiêm trọng. Tình trạng khai thác gỗ trái phép, đốt nương làm rẫy và áp lực sinh kế của cộng đồng dân cư địa phương đã làm gián đoạn quy luật diễn thế tự nhiên, khiến trữ lượng gỗ suy giảm, đất đai bị xói mòn và gây ra tình trạng thiếu hụt nguồn nước sinh hoạt nghiêm trọng trong mùa khô.

Trước thực trạng đó, việc xác định các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp nhằm phục hồi và quản lý bền vững kiểu rừng đặc thù này là nhiệm vụ cấp thiết. Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là xác định các quần xã thực vật rừng tự nhiên trên núi đá vôi, phân tích đặc điểm cấu trúc tầng cây cao, đánh giá hiện trạng tái sinh tự nhiên của các loài cây gỗ và đo lường tác động của các nhân tố sinh thái môi trường. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại ba xã trọng điểm gồm Môn Sơn, Châu Khê và Lục Dạ thuộc huyện Con Cuông, nằm trong vùng đệm và vùng lõi của Vườn quốc gia Pù Mát trong giai đoạn 2010 - 2011.

Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp bộ dữ liệu định lượng chuẩn xác về mật độ cá thể dao động từ 477 đến 510 cây/ha, tổng tiết diện ngang từ 11,76 đến 13,56 m2/ha cùng chỉ số giá trị quan trọng của các loài ưu thế. Đây là cơ sở thực chứng giúp các nhà quản lý rừng chuyển đổi từ phương thức khoanh nuôi bảo vệ thụ động sang can thiệp kỹ thuật lâm sinh chủ động, tối ưu hóa khả năng phòng hộ đầu nguồn và bảo tồn nguồn gen quý hiếm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng học thuyết hệ sinh thái của Tansley (1935) và học thuyết sinh địa quần học của Sucasev (1957) theo nguyên lý sinh thái phát sinh thảm thực vật. Khung phân loại chính được kế thừa từ công trình phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam của Thái Văn Trừng (1978), cho phép nhận diện và phân cấp các kiểu thảm thực vật dựa trên bốn tiêu chuẩn ngoại mạo sinh thái: dạng sống ưu thế, độ tàn che của tán rừng, hình thái sinh thái của lá và trạng mùa của tán lá tầng ưu thế.

Trong khuôn khổ đề tài, ba khái niệm cốt lõi được định nghĩa và vận dụng xuyên suốt gồm:

  • Quần xã thực vật rừng: Tập hợp các quần thể thực vật cùng sinh sống trong một sinh cảnh xác định, có mối liên hệ sinh thái mật thiết, trong đó cây gỗ chiếm ưu thế với độ tàn che đạt trên 0,3.
  • Kiểu phụ thổ nhưỡng kiệt nước trên đất đá vôi xương xẩu: Loại hình rừng hình thành trên nền đá Karst có tầng đất mỏng, phân bố rời rạc trong các hốc đá và thoát nước nhanh.
  • Ưu hợp thực vật: Tập hợp các cá thể cây rừng mà trong đó một nhóm dưới 10 loài chiếm từ 40% đến 50% tổng số cá thể hoặc tổng tiết diện ngang của lâm phần.
  • Chỉ số giá trị quan trọng (Important Value Index - IV%): Thước đo định lượng vai trò sinh thái của loài dựa trên trung bình cộng của tỷ lệ phần trăm số cây và tỷ lệ phần trăm tiết diện ngang.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra lâm học thực địa kết hợp điều tra tuyến và lập ô tiêu chuẩn điển hình tạm thời. Do địa hình núi đá vôi bị chia cắt mạnh, độ dốc phổ biến từ 25 đến trên 35 độ và cấu trúc rừng phân hóa phức tạp, phương pháp chọn mẫu điển hình được áp dụng nhằm phản ánh chính xác đại diện cho từng trạng thái rừng.

Quy mô mẫu điều tra gồm 22 ô tiêu chuẩn (OTC) có diện tích từ 500 m2 đến 1.000 m2 được thiết lập tại ba xã: Môn Sơn (7 ô), Châu Khê (10 ô) và Lục Dạ (5 ô). Cụ thể, đối với các quần xã có cấu trúc thuần nhất trên địa hình hiểm trở, diện tích ô tiêu chuẩn là 500 m2 (lập 3 ô/quần xã); các quần xã còn lại lập 2 ô tiêu chuẩn với diện tích 1.000 m2. Trên mỗi ô tiêu chuẩn, toàn bộ cây gỗ có đường kính ngang ngực D1,3 từ 6 cm trở lên đều được đo đếm đường kính thân bằng thước kẹp kính, chiều cao vút ngọn và chiều cao dưới cành bằng thước Blumeleiss, đường kính tán lá bằng thước dây.

Để điều tra lớp cây tái sinh, tại mỗi ô tiêu chuẩn bố trí 5 ô dạng bản diện tích 4 m2 (tổng cộng 110 ô dạng bản) tại 4 góc và tâm ô để thống kê loài, đo chiều cao và phân cấp chất lượng cây mạ, cây con. Tầng cây bụi và thảm tươi được khảo sát qua 5 ô dạng bản diện tích 25 m2/ô tiêu chuẩn. Độ tàn che của tán rừng được xác định chính xác bằng máy đo điểm KB-2 qua mạng lưới 100 điểm phân bố đều trên mỗi ô. Phương pháp phân tích số liệu nội nghiệp áp dụng các công thức toán học lâm nghiệp gồm: chỉ số IV% của Daniel Marmillod, chỉ số đa dạng loài của Simpson, Margalef, Menhinik, chỉ số thân thuộc của Sorenson và phân bố số cây theo cấp kính. Toàn bộ quá trình thu thập và xử lý số liệu được hoàn thành trong chu kỳ nghiên cứu từ tháng 9 năm 2010 đến tháng 5 năm 2011.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã xác định toàn bộ diện tích rừng tự nhiên trên núi đá vôi tại ba địa phương thuộc huyện Con Cuông đều quy về một kiểu thảm thực vật chính là Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới (Rkx) thuộc kiểu phụ thổ nhưỡng kiệt nước trên đất đá vôi xương xẩu ít bị tác động và kiểu phụ thứ sinh nhân tác. Có 4 quần xã thực vật tiêu biểu được phân định chi tiết:

Quần xã Dẻ + Máu chó + Nhọc: Phân bố ở độ cao trung bình 450 m, độ dốc trên 25 độ, tỷ lệ đá lộ đầu khoảng 45%. Mật độ tầng cây cao đạt 477 cây/ha, tổng tiết diện ngang đạt 13,56 m2/ha, đường kính trung bình đạt 15,29 cm và chiều cao vút ngọn trung bình đạt 16,33 m. Nhóm 5 loài chính chiếm tới 73,54% giá trị quan trọng (IV%), trong đó loài Dẻ giữ vị trí ưu thế vượt trội với IV% đạt 49,70%, chiếm 35,64% tổng số cây (170 cây/ha) và 63,76% tổng tiết diện ngang.

Quần xã Re + Côm + Bời lời: Phân bố tại sườn dốc 35 độ ở đai cao 500 m, tỷ lệ đá lộ đầu trên 60%. Mật độ lâm phần đạt 486 cây/ha, tổng tiết diện ngang đạt 11,76 m2/ha. Có 6 loài chủ yếu tham gia công thức tổ thành chiếm 78,68% IV%, trong đó hai loài Re và Côm chiếm ưu thế cân bằng với giá trị IV% lần lượt là 27,07% và 23,75%. Mật độ loài Re đạt 134 cây/ha (chiếm 27,57% số cây), còn loài Côm đạt 75 cây/ha nhưng đóng góp tới 32,08% tổng tiết diện ngang.

Quần xã Cà ổi + Đái bò + Chắp + Bứa: Xuất hiện trên sườn núi dốc trên 25 độ, tỷ lệ đá lộ đầu trên 70%. Mật độ cá thể đạt 510 cây/ha, tổng tiết diện ngang đạt 12,51 m2/ha. Bốn loài chính chiếm 75,19% IV%, trong đó Cà ổi đóng vai trò lập quần với IV% đạt 39,16%, mật độ đạt 174 cây/ha (chiếm 34,12% tổng số cây lâm phần).

Quần xã Sảng nhung + Lộc mại + Mạy tèo: Thuộc kiểu phụ thứ sinh nhân tác sau khai thác kiệt, phân bố ở các sườn đỉnh dốc trên 35 độ, độ che phủ đá lộ đầu từ 40% đến 50%, tầng cây gỗ chủ yếu gồm các loài cây tiên phong mọc nhanh, kích thước nhỏ và đang trong giai đoạn phục hồi ban đầu.

Thảo luận kết quả

Thực trạng cấu trúc của các quần xã thực vật cho thấy hệ sinh thái rừng núi đá vôi tại Con Cuông mang đặc trưng rõ nét của rừng thứ sinh phục hồi sau các đợt tác động nhân sinh. Theo thang phân loại trữ lượng rừng tự nhiên của Loetsch (1960), cả ba quần xã chính đều thuộc trạng thái rừng nghèo (IIIA1) do tổng tiết diện ngang chỉ dao động từ 11,76 đến 13,56 m2/ha và tiết diện ngang của những cây có đường kính trên 40 cm đạt dưới 5 m2/ha.

Khi trực quan hóa cấu trúc không gian qua biểu đồ phẫu diện đứng, rừng phân tầng rõ rệt thành 3 tầng cây gỗ gồm tầng vượt tán (A1), tầng ưu thế sinh thái (A2) và tầng dưới tán (A3). Tuy nhiên, tầng vượt tán xuất hiện rất thưa thớt, tán rừng không liên tục do sự khống chế của điều kiện lập địa khô hạn và rải rác hốc đá. Đồ thị phân bố số cây theo cấp đường kính (N/D1,3) biểu diễn dạng đường cong giảm hàm mũ chuẩn (dạng phân bố Poisson), phản ánh số lượng cây tập trung áp đảo ở các cấp kính nhỏ từ 10 đến 20 cm (chiếm trên 60% tổng số cây), chứng minh quần xã đang trong giai đoạn sinh trưởng tích lũy sinh khối mạnh mẽ.

Về tái sinh tự nhiên, mật độ cây tái sinh triển vọng chịu sự điều tiết chặt chẽ của độ tàn che và độ dốc mặt đất. Tại các ô tiêu chuẩn có độ tàn che từ 0,5 đến 0,7, mật độ cây tái sinh đạt mức cao nhất, trong khi ở những nơi tán quá kín hoặc lỗ trống quá lớn, cây tái sinh mục đích bị lấn át bởi cây bụi và dây leo. Cây tái sinh chủ yếu có nguồn gốc từ hạt (chiếm trên 75%), nhưng hơn 65% số cá thể tập trung ở cấp chiều cao dưới 1,0 m, phản ánh rào cản sinh trưởng khi bước vào giai đoạn cạnh tranh ánh sáng tầng cao.

So sánh với các nghiên cứu tại Vườn quốc gia Cúc Phương và Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Bàng, rừng núi đá vôi Con Cuông có sự vắng mặt tương đối của các loài cây gỗ lớn như Nghiến và Trai lý do lịch sử khai thác chọn trong quá khứ. Thay vào đó, sự chiếm ưu thế của các loài thuộc họ Dẻ, Long não và Côm thể hiện sự thích ứng sinh thái mạnh mẽ của thảm thực vật bản địa Bắc Trường Sơn đối với nền địa chất Karst nhiệt đới.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích cấu trúc và đặc điểm lâm học, bốn nhóm giải pháp kỹ thuật lâm sinh được đề xuất đồng bộ nhằm phục hồi diện tích rừng trên núi đá vôi tại Con Cuông:

Thứ nhất, áp dụng biện pháp bảo vệ nguyên vẹn và khoanh nuôi thuần túy đối với các diện tích rừng thuộc trạng thái IIIA1 tại Vườn quốc gia Pù Mát. Mục tiêu duy trì độ tàn che tầng cây cao luôn đạt trên 0,6, nghiêm cấm mọi hoạt động chặt hạ cây gỗ và giảm 100% các vụ vi phạm khai thác gỗ trong giai đoạn 2024 - 2026. Chủ thể thực hiện chính là Ban quản lý Vườn quốc gia Pù Mát phối hợp cùng Hạt Kiểm lâm Con Cuông.

Thứ hai, thực hiện biện pháp xúc tiến tái sinh tự nhiên có hỗ trợ kỹ thuật tại các quần xã có mật độ cây tái sinh dưới 1,0 m chiếm tỷ lệ cao. Tiến hành phát dọn dây leo, cây bụi chèn ép xung quanh cây con mục đích với bán kính 0,8 - 1,0 m, điều tiết độ tàn che cục bộ về mức 0,5 - 0,6 nhằm nâng tỷ lệ cây tái sinh đạt chiều cao trên 2,0 m lên mức tối thiểu 70% trong vòng 3 đến 5 năm. Lực lượng kiểm lâm địa bàn hướng dẫn các hộ nhận khoán bảo vệ rừng thực hiện định kỳ 2 lần/năm.

Thứ ba, triển khai trồng bổ sung và làm giàu rừng tại các khoảng trống, nương rẫy cũ chân núi đá vôi thuộc quần xã Sảng nhung + Lộc mại + Mạy tèo. Sử dụng các loài cây bản địa có giá trị bảo tồn và kinh tế cao như Dẻ, Bời lời, Côm, Re và Mắc rạc để trồng vào các hốc đá có tích tụ đất màu. Chỉ tiêu hướng tới là đạt mật độ cây trồng sống trên 600 cây/ha sau 3 năm trồng, triển khai trong khung thời gian 2025 - 2028 dưới sự chỉ đạo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Nghệ An.

Thứ tư, thiết lập cơ chế đồng quản lý rừng gắn liền với chi trả dịch vụ môi trường rừng cho cộng đồng dân tộc Thái và Đan Lai. Mục tiêu giảm thiểu 40% áp lực khai thác củi đun và chăn thả gia súc vào rừng núi đá vôi trong vòng 2 năm đầu, do Ủy ban nhân dân huyện Con Cuông chủ trì lồng ghép với các chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào thiểu số.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và dữ liệu thực chứng của luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chuyên môn:

Nhóm 1: Các cơ quan quản lý nhà nước về lâm nghiệp và Ban quản lý các khu rừng đặc dụng, phòng hộ. Tài liệu cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng phương án quản lý rừng bền vững, quy hoạch phân khu chức năng và xác định các giải pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp với đặc thù lập địa Karst tại miền Trung.

Nhóm 2: Các chuyên gia, nhà nghiên cứu sinh thái học và giảng viên chuyên ngành Lâm học. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận phân loại thảm thực vật theo trường phái sinh thái phát sinh, kỹ thuật tính toán chỉ số giá trị quan trọng (IV%) và quy luật tái sinh tự nhiên dưới tán rừng nhiệt đới.

Nhóm 3: Học viên cao học và sinh viên các ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm sinh, Khoa học môi trường. Đây là biểu mẫu chuẩn mực về cấu trúc một công trình nghiên cứu khoa học thực địa, từ khâu bố trí ô tiêu chuẩn, thu thập số liệu trắc lượng lâm nghiệp đến kỹ năng xử lý thống kê chuyên sâu.

Nhóm 4: Các tổ chức phi chính phủ và đơn vị thực hiện dự án bảo tồn đa dạng sinh học. Báo cáo cung cấp dữ liệu nền tảng phục vụ việc thiết kế các dự án phục hồi cảnh quan rừng Karst, bảo tồn các loài thực vật nguy cấp và hỗ trợ phát triển sinh kế cộng đồng bản địa.

Câu hỏi thường gặp

Điểm khác biệt căn bản trong cấu trúc rừng trên núi đá vôi tại Con Cuông so với rừng trên núi đất là gì? Cấu trúc rừng trên núi đá vôi chịu sự chi phối khắc nghiệt của nền địa mạo Karst với tỷ lệ đá lộ đầu cao từ 45% đến 70%, đất chỉ tích tụ cục bộ trong các hốc đá. Điều này khiến tầng rễ cây nông, cấu trúc tầng tán kém liên tục, mật độ lâm phần đạt từ 477 đến 510 cây/ha và tổng tiết diện ngang chỉ từ 11,76 đến 13,56 m2/ha, thấp hơn đáng kể so với rừng trên đất Feralit cùng đai cao.

Ý nghĩa thực tiễn của chỉ số giá trị quan trọng (IV%) trong việc đề xuất giải pháp lâm sinh là gì? Chỉ số IV% tổng hợp đồng thời cả số lượng cá thể (N%) và độ lớn không gian dinh dưỡng qua tiết diện ngang (G%). Trong nghiên cứu, loài Dẻ đạt IV% tới 49,70% trong quần xã Dẻ + Máu chó + Nhọc, khẳng định đây là loài giữ vai trò cấu trúc nền tảng, giúp các nhà lâm nghiệp xác định chính xác loài mục đích cần ưu tiên bảo vệ và tái sinh làm giàu rừng.

Những rào cản lớn nhất đối với quá trình tái sinh tự nhiên của cây gỗ trên núi đá vôi là gì? Rào cản lớn nhất là hiện tượng kiệt nước mặt và độ dốc bình quân từ 25 đến 35 độ làm rửa trôi hạt giống vào các khe nứt sâu. Đồng thời, sự cạnh tranh gay gắt của tầng cây bụi và dây leo khiến hơn 65% cây con bị nghẽn sinh trưởng ở cấp chiều cao dưới 1,0 m, không thể vươn lên tầng tán chính nếu không có can thiệp lâm sinh.

Tại sao đề tài lựa chọn hệ thống phân loại của Thái Văn Trừng thay vì các hệ thống quốc tế như UNESCO? Hệ thống phân loại của Thái Văn Trừng được xây dựng trên nguyên lý sinh thái phát sinh quần thể, sử dụng 4 tiêu chuẩn ngoại mạo phản ánh sát thực điều kiện nhiệt đới gió mùa ẩm tại Việt Nam. Khung lý thuyết này phân định rõ các kiểu phụ thổ nhưỡng kiệt nước và kiểu phụ thứ sinh nhân tác, phù hợp hoàn hảo với đối tượng rừng Karst bị xáo trộn nhân vi.

Tại sao xúc tiến tái sinh tự nhiên lại được ưu tiên hơn trồng rừng thuần túy trên núi đá vôi? Địa hình núi đá vôi có tầng đất mỏng và hiểm trở khiến chi phí đào hố trồng rừng mới rất tốn kém và tỷ lệ sống sót thường dưới 40%. Xúc tiến tái sinh tự nhiên tận dụng nguồn vật liệu di truyền bản địa có sẵn, cây con có hệ rễ thích nghi tự nhiên trong các kẽ đá, giúp tiết kiệm hơn 60% ngân sách và đảm bảo tính ổn định sinh thái lâu dài.

Kết luận

Nghiên cứu cấu trúc thảm thực vật rừng trên núi đá vôi tại huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An đã mang lại những kết luận khoa học cốt lõi sau:

  • Xác định toàn bộ diện tích nghiên cứu thuộc Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới (Rkx), phân hóa thành 4 quần xã thực vật điển hình thích nghi trên nền Karst.
  • Đo đạc chính xác mật độ tầng cây cao đạt từ 477 đến 510 cây/ha, tổng tiết diện ngang từ 11,76 đến 13,56 m2/ha, xác định rừng đang ở trạng thái nghèo phục hồi (IIIA1).
  • Định lượng vai trò ưu thế sinh thái của các loài cây bản địa thông qua chỉ số IV%, tiêu biểu là Dẻ (49,70%), Re (27,07%) và Cà ổi (39,16%).
  • Làm sáng tỏ quy luật tái sinh tự nhiên với tỷ lệ cây mầm có nguồn gốc hạt trên 75%, chịu sự khống chế của độ tàn che tán rừng và tầng cây bụi thảm tươi.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp kỹ thuật lâm sinh toàn diện gồm khoanh nuôi bảo vệ, mở tán cục bộ hỗ trợ tái sinh và trồng bổ sung cây bản địa vào hốc đá.

Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là hoàn thiện cơ sở dữ liệu lâm học định lượng cho hệ sinh thái Karst khu vực Bắc Trường Sơn. Lộ trình ứng dụng kết quả nghiên cứu cần được triển khai thí điểm tại Vườn quốc gia Pù Mát trong giai đoạn 2025 - 2030. Các cơ quan quản lý, nhà nghiên cứu và tổ chức phát triển quan tâm có thể khai thác toàn văn tài liệu để ứng dụng vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển rừng bền vững.