MỞ ĐẦU Trên thế giới vấn đề ảnh hưởng của không gian xanh đô thị đến môi trường đã được nhiều nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu một cách có hệ thống. Theo Tara Zupancic (2015)[20], để trả lời được cho câu hỏi: bằng chứng nào khẳng định không gian xanh có vai trò cải thiện chất lượng cuộc sống cho cộng đồng người dân trong đô thị? Các nhà khoa học trên thế giới đã tập trung nghiên cứu theo 5 hướng chính: (1) kiểu và phạm vi của không gian xanh phù hợp với việc giảm nhiệt đô thị và giảm ô nhiễm không khí (phát triển kiểu cây xanh phân tán, cây xanh trong công viên, rừng trong đô thị; phạm vi ảnh hưởng trong khu vực có cây xanh, ngoài khu vực có cây xanh, ảnh hưởng đến một phần của đô thị hay toàn vùng); (2) loại cây xanh phù hợp cho các đô thị (so sánh hiệu quả của các loại cây xanh khác nhau); (3) các đặc trưng của không gian xanh như mật độ cây, cách bố trí (phân tán, tập trung) ảnh hưởng đến chức năng của đô thị; (4) các nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến mối quan hệ của không gian xanh trong việc làm mát đô thị và giảm ô nhiễm môi trường như: chế độ gió, mùa, thời gian trong ngày, hạ tầng xung quanh…); (5) các tác động tiêu cực của không gian xanh (phát thải các chất hữu cơ dễ bay hơi, giảm tầm nhìn…). Về lĩnh vực nghiên cứu ảnh hưởng của không gian xanh đến hiệu quả giảm nhiệt đô thị, theo Theo Lucy Taylor et al. Trong số các công trình đã công bố nghiên cứu về không gian xanh thì đã có những công trình của một số tác giả nghiên cứu về hiệu quả giảm nhiệt của không gian xanh đô thị.
Nội dung của các nghiên cứu đó có thể chia LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 thành 2 thành phần: xác định cường độ giảm nhiệt và xác định phạm vi giảm nhiệt của không gian xanh. Mỗi thành phần này lại bị ảnh hưởng bởi các nhân tố khác nhau, nhưng có thể chia thành 2 nhóm nhân tố chính: nhân tố bên trong (kích thước, hình dạng, độ che phủ, thành phần loài thực vật của không gian xanh) và nhân tố bên ngoài (chế độ gió, độ ẩm, mật độ giao thông, loại hình sử dụng đất…của không gian xanh). Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về không gian xanh còn rất hạn chế. Đặc biệt, các nghiên cứu theo hướng ảnh hưởng của không gian xanh đến môi trường còn chưa thực sự nổi bật và chưa có đủ các căn cứ cho việc sử dụng vào lập các kế hoạch, quy hoạch.
Do thiếu các nghiên cứu có tính hệ thống nên trong quy chuẩn về lựa chọn không gian xanh quy hoạch cho các đô thị của Việt Nam, các nhà quy hoạch thường sử dụng các tiêu chuẩn của nước ngoài để tham khảo và điều chỉnh cho phù hợp với thực tế của nước ta. Xuất phát từ những hạn chế về các nghiên cứu theo hướng này ở nước ta như đã nêu, tác giả lựa chọn đề tài “Nghiên cứu hiệu quả giảm nhiệt của không gian xanh đô thị tại thành phố Hà Nội sử dụng công nghệ viễn thám” nhằm góp phần cung cấp thêm cơ sở lý luận và thực tiễn cho các nhà quy hoạch trong việc xây dựng các quy hoạch không gian xanh đô thị tại thành phố Hà Nội và trong các đô thị của Việt Nam theo hướng phát triển bền vững. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Định nghĩa, phân loại, lợi ích của không gian xanh đô thị 1.
Định nghĩa không gian xanh Không gian xanh đô thị là một thuật ngữ được sử dụng nhiều trong thời gian gần đây. Thuật ngữ này có nguồn gốc từ các phong trào bảo tồn thiên nhiên đô thị và các ý tưởng quy hoạch không gian xanh (Swanwick, Dunnett và Woolley, 2003). Định nghĩa về không gian xanh đô thị là một vấn đề vẫn đang được các nhà khoa học trên thế giới tranh luận và chưa có sự thống nhất. Trên thế giới đã có rất nhiều định nghĩa được đưa ra.
Mỗi chuyên ngành khác nhau đã đề xuất các thuật ngữ khác nhau từ góc độ chuyên môn của họ, chẳng hạn như: không gian xanh đô thị, không gian mở đô thị, hệ thống vườn đô thị, hệ thống vườn sinh thái (Manlun, 2003). George Wu (1999) cho rằng, không gian xanh ám chỉ những khu đất được bao phủ bởi thảm thực vật tự nhiên hoặc nhân tạo trong khu vực xây dựng và các khu vực quy hoạch. Theo Bayram Cemil Bilgili and Ercan Gökyer (2012), không gian xanh được định nghĩa là những khu vực đô thị nơi xảy ra sự chuyển đổi các hệ sinh thái tự nhiên hoặc bán tự nhiên thành không gian đô thị dưới các hoạt động của con người. Từ góc độ quy hoạch cảnh quan và thiết kế đô thị, Ling Zhang (2001) đã định nghĩa không gian xanh gần như là tất cả các khu vực trong thành phố và các khu vực xung quanh nó, cho phép mọi người hòa mình vào với thiên nhiên.
Theo tổ chức Greenspace Scotland, không gian xanh là "lá phổi xanh " của các thị trấn và thành phố. Về cơ bản không gian xanh là bất kỳ diện tích thảm thực vật nào trong đô thị. Cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (EPA) định nghĩa không gian xanh là diện tích tích đất mà một phần hoặc toàn bộ diện tích đó được bao phủ bởi cỏ, cây bụi, hoặc thảm thực vật khác. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Đề cập đến một số định nghĩa từ các nước khác như: Anh, Mỹ, Nhật Bản thì đinh nghĩa về không gian xanh được ưu tiên với ý nghĩa không gian.
Ở Anh, người ta định nghĩa không gian xanh là đất ở các khu dân cư nơi mà các diện tích kiến trúc hạ tầng thấp hơn 1/20 của toàn bộ khu vực (không bao gồm đất hoang). Ở Mỹ, người ta định nghĩa không gian xanh là đất trong môi trường tự nhiên phục vụ cho mục đích giải trí hay quy hoạch xây dựng đô thị. Ở Nhật Bản, người ta đưa ra định nghĩa về không gian xanh như sau: không gian xanh là đất không có các kiến trúc hạ tầng ví dụ như: Công viên, quảng trường, sân thể dục, vườn thú, khu vườn thực vật (Gaoyuan Rongzhong, Yang Zhengzhi, 1983). Phân loại không gian xanh Các nước khác nhau đã đề xuất phân loại các kiểu không gian xanh khác nhau dựa vào chức năng, kích thước và các đặc tính vật lý của hệ thống không gian xanh.
Theo Kong et al. (2007), Saphores và Li (2012) thì việc phân loại không gian xanh có thể dựa vào việc mô tả các đặc tính của từng loại không gian xanh thông qua việc đánh giá "khách quan" các đặc điểm như: mật độ cây, kích thước, đặc điểm địa hình. Khi tính đến các yếu tố về địa hình, nó có thể được phân loại thành núi, mặt nước, rừng, đất nông nghiệp và đường. Hệ thống không gian xanh cũng có thể được phân loại thành các kiểu như: đám, vùng, điểm và đường (Yang Manlun, 2003).
Tuy nhiên, phương pháp thiết thực và có hiệu quả nhất để phân loại hệ thống không gian xanh là dựa vào chức năng của chúng. Trung Quốc, Đan Mạch và một số nước khác đã áp dụng phương pháp này để phân loại hệ thống không gian xanh quốc gia của họ. Phân loại không gian xanh tại Châu Âu Phân loại không gian xanh tại Châu Âu được đề cập trong nghiên cứu “Không gian xanh đô thị: một cách tiếp cận môi trường bền vững” của Shah Md. Nghiên cứu được thực hiện tại 26 thành phố của 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 nước châu Âu với kết quả đã chỉ ra rằng không gian xanh đô thị như là một đóng góp quan trọng cho sự phát triển bền vững.
Định nghĩa về không gian xanh đô thị đã được thống nhất bởi các nhà sinh thái học, kinh tế, khoa học xã hội là không gian mở công cộng hoặc tư nhân tại các khu vực đô thị, chủ yếu được bao phủ bởi thảm thực vật có lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp cho con người. Các nhà nghiên cứu tại Châu Âu đã đưa ra một số hướng để phân loại không gian xanh. Thứ nhất, một trong những yếu tố chính trong việc xác định bản chất của không gian xanh là số lượng của chúng ở trong thành phố. Thứ hai, không gian xanh cho phép con người có thể tiếp cận và sử dụng các lợi ích mà chúng đem lại.
Thứ ba, chức năng của những không gian xanh là như nhau đối với toàn bộ thành phố, vai trò của chúng vô cùng quan trọng và không thể bỏ qua đối với sự phát triển bền vững. Cuối cùng, kích thước không gian xanh là tiêu chí được xem xét để phân loại không gian xanh.1 thể hiện các tiêu chuẩn về kích thước tối thiểu của các loại không gian xanh đô thị ở Châu Âu. Tiêu chuẩn tối thiểu cho các không gian xanh đô thị Châu Âu Chức năng Khoảng cách tối đa Bề mặt tối thiểu (ha) không gian xanh từ nhà (m) Không gian xanh khu dân cư 150 Vườn cộng đồng 400 1 Khu phố xanh 80 10 (công viên: 5) Khu vực quận huyện xanh 1600 30 (công viên: 10) Thành phố xanh 3200 60 Rừng đô thị 5000 ≥ 200 thị trấn nhỏ ≥ 300 thành phố lớn (Nguồn: Herzele and Wiedemann, 2003) b. Phân loại không gian xanh tại thành phố Aalborg – Đan Mạch Trong nghiên cứu của Toke Emil Panduro và Kathrine Lausted Veie (2013) , không gian xanh được xem xét trên năm hướng tiếp cận.
Đầu tiên là LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 "tiếp cận từ bên ngoài", các cách tiếp cận vào không gian xanh đô thị như: lối vào, các con đường mòn và đường chính vào không gian xanh đô thị. "Tiếp cận nội bộ", các cách tiếp cập trong nội bộ không gian xanh đô thị như: các đường mòn và các con đường mở ra khu vực xung quanh và cung cấp khả năng tiếp cận trên toàn khu vực. "Tiếp cận xã hội", tiếp cận với nhận thức xã hội và pháp lý của khu vực. Cách tiếp cận thứ tư của không gian xanh là mức độ "bảo dưỡng".
Một khu vực đòi hỏi một mức độ bảo dưỡng cao thường cung cấp nhiều dịch vụ tốt và thu hút hơn so với những khu vực có mức độ bảo dưỡng thấp hơn. Hướng tiếp cận cuối cung là xem xét việc sử dụng đất của khu vực xung quanh. Một số cách sử dụng đất của khu vực xung quanh các không gian xanh có thể làm giảm đáng kể sự hấp dẫn của chúng, ví dụ: ngành công nghiệp, đường sắt, đường cao tốc.