mở đầu cho thời kỳ nghiên cứu hệ thực vật cụ thể. Vào thời gian này, Tomachev A. [12] nghiên cứu hệ thực vật vùng Taimua nằm ở tọa độ địa lý 74o 20’-25o độ vĩ bắc và 102o 30’ độ kinh đông và cho ra nhiều nhận định có giá trị. Từ những năm đầu thế kỷ XX đã xuất hiện một công trình nổi tiếng, là nền tảng đánh giá tính đa dạng thực vật Việt Nam, đó là bộ “Thực vật chí Đông Dương” do H.Lecomte chủ biên năm (1907 - 1952) [41].
Trong công trình này, các tác giả người Pháp đã thu mẫu và định tên, lập khoá mô tả các loài thực vật bậc cao có mạch trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương. Humbert (1938 - 1950) [43] đã bổ sung, chỉnh lý để hoàn thiện việc đánh giá thành phần loài cho toàn vùng 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và gần đây phải kể đến bộ Thực vật chí Campuchia, Lào và Việt Nam do Aubréville khởi xướng và chủ biên (1960 - 1997) [42] cùng với nhiều tác giả khác. Đến nay đã công bố 29 tập nhỏ gồm 74 họ cây có mạch nghĩa là chưa đầy 20% tổng số họ đã có. Nghiên cứu về thực vật rừng đặc hữu nguy cấp, quý hiếm Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, do những nguyên nhân khác nhau, nhiều loài thực vật đã bị tuyệt chủng hoặc bị đe dọa tuyệt chủng, các nguồn tài nguyên sinh học không ngừng bị suy giảm.
Nhằm nâng cao nhận thức trong xã hội và cộng đồng về tính cấp thiết của việc bảo tồn đa dạng sinh học và tạo cứ liệu quan trọng cho công tác bảo tồn, năm 1964 Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới đã xuất bản các Bộ sách đỏ nhằm cung cấp một cách khoa học và có hệ thống danh sách về tình trạng bảo tồn và đa dạng của các loài động vật và thực vật đang có nguy cơ tuyệt chủng trên thế giới. Năm 1994, IUCN đã đề xuất những thứ hạng và tiêu chuẩn mới cho việc phân hạng tình trạng các loài động vật, thực vật bị đe doạ trên thế giới. Các thứ hạng và tiêu chuẩn của IUCN được cụ thể hoá như sau: loài tuyệt chủng (EX), loài rất nguy cấp (CR), loài nguy cấp (EN), loài sẽ nguy cấp (VU),…Sách đỏ IUCN công bố văn bản năm 2004 (Sách Đỏ 2004) vào ngày 17/11/2004. Văn bản này đã đánh giá tất cả 38.047 loài, cùng với 2.140 phân loài, giống, chi và quần thể.503 loài nằm trong tình trạng nguy cơ tuyệt chủng gồm 7.180 loài động vật, 8.321 loài thực vật, và 2 loài nấm.
Danh sách cũng công bố 784 loài loài tuyệt chủng được ghi nhận từ năm 1500. Trong bản sách đỏ mới nhất vừa được IUCN công bố (IUCN Red List) năm 2019, gần như không có sự tiến bộ nào với các loài sinh vật bị đe dọa so với những năm trước đây.732 loài được khảo sát có tới hơn 28.000 bị đe dọa tuyệt chủng. Tại Việt Nam 1. Những nghiên cứu về thực vật Ngay từ cuối thế kỷ 18, nhà thực vật học người Bồ Đào Nha, J.
Loureiro đã biên soạn cuốn sách đầu tiên về đa dạng thực vật Việt Nam của hệ thực vật Nam Bộ (Flora Cochinchinensis, 1790). Tuy nhiên, trong đó tác giả có đề cập 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đến nhiều loài có phân bố ở một số nước lân cận như Trung Quốc, Thái Lan, Mianma, Campuchia… Tiếp theo là tác nhà thực vật học người Pháp, J. Pierre biên soạn cuốn sách về Cây gỗ rừng Nam Bộ (Flore Forestière de la Cochinchine, 1790-1795), trong đó có mô tả và hình vẽ chi tiết các loài thực vật thân gỗ có phân bố ở khu vực Nam Bộ. Nửa đầu thế kỷ 20 các nhà thực vật học Pháp dưới sự chủ biên của H.
Lecomte (1907-1952) đã lần lượt xuất bản bộ sách Thực vật chí đại cương Đông Dương (Flore Générale de l’Indo-Chine) và phẩn bổ sung (Suppléments à la Flore Générale de l’Indo-Chine) gồm 7 tập. Trong đó dựa trên hệ thống của Bentham & Hooker, các tác giả đã phân loại và mô tả hơn 7.000 loài thực vật thuộc trên 200 họ thực vật có mạch ở vùng Đông Dương, trong đó có Việt Nam. Từ năm 1960 đến nay, các nhà thực vật trên thế giới và Việt Nam đã và đang biên soạn Thực vật chí Campuchia, Lào và Việt Nam (Flore du Cambodge, du Laos et du Vietnam) với trên 35 tập đã được xuất bản. Đây là tập các công trình nghiên cứu phân loại mang tầm cỡ quốc tế, là tài liệu tham khảo chính khi nghiên cứu đa dạng và phân bố của các taxon thực vật ở Đông Dương, trong đó có Việt Nam.
Trong thời gian nửa cuối thế kỷ XX, đã có nhiều công trình là kết quả nghiên cứu, điều tra, đánh giá đa dạng thực vật Việt Nam của các tác giả trong nước và nước ngoài rất có giá trị như: Lê Khả & cộng sự (1969-1976), Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam; Phạm Hoàng Hộ (1970-1972), Cây cỏ thường thấy ở Miền Nam với 5326 loài; Phạm Hoàng Hộ có công trình nghiên cứu thực vật cả nước (1991-1993, 1999-2000), Cây cỏ Việt Nam gồm 3 tập; Danh lục các loài thực vật Việt Nam của nhiều tác giả (2001, 2003, 2005); bộ sách Thực vật chí Việt Nam đã xuất bản được 11 tập… Cùng với những công trình mang tính chất chung về taxon hay vùng lãnh thổ cả nước, còn rất nhiều công trình về kết quả nghiên cứu Đa dạng thực vật và các loài thực vật đặc hữu, quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng của mỗi khu vực hoặc các Khu bảo tồn (Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên,.) được nghiên cứu hoặc công bố, cụ thể như: Tính đa dạng thực vật có mạch ở vùng núi cao Sapa - Fansipan (1998); Đa dạng thục vật ở Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang (2006); Đa dạng sinh học và bảo tồn nguồn gen sinh vật tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ (2007); Tính đa dạng 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thực vật trên núi đá vôi vùng Hoà Bình (1996-1997); Đa dạng thực vật VQG Bái Tử Long (2009); Đa dạng sinh học VQG Xuân Thủy (2009, 2015)… 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nghiên cứu về thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm Hiện nay, tài liệu duy nhất công bố một cách đầy đủ các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam là tuyển tập "Sách đỏ Việt Nam (phần thực vật)" [6]. Bên cạnh đó còn có một số công trình nghiên cứu đáng chú ý như: Tại khu BTTN Nà Hẩu, Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu (2009), Báo cáo điều tra hệ thực vật khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái [5] nghiên cứu hiện trạng hệ thực vật ở KBTTN Nà Hẩu đã thống kê và lập danh mục số loài thực vật quý hiếm gồm có 27 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam (2007); Nguyễn Duy Tùng (2013) [30] nghiên cứu hiện trạng các loài thực vật nguy cấp, quý hiếm và đề xuất một số giải pháp bảo tồn tại khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên; Nguyễn Việt Phương (2015) [24] nghiên cứu hiện trạng các loài thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm và đề xuất một số giải pháp bảo tồn tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Hiện nay, số lượng loài thực vật nguy cấp, quý hiếm có giá trị tại Việt Nam đang bị giảm sút, bị đe doạ và có nguy cơ tuyệt chủng, tuy nhiên những nghiên cứu về các loài này còn rất ít và thông tin chưa được cập nhập, bổ sung thường xuyên.
Tại vịnh Hạ Long Theo Thực vật chí Đại cương Đông Dương (Flore Generale de l’Indo- Chine), các nhà thực vật Pháp cũng đã có những khảo sát, thu mẫu thực vật tại Vịnh Hạ Long, trong đó thống kê được 73 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc về 35 họ, 58 chi ghi nhận có phân bố tại Hạ Long "along". Năm 1999, dưới sự giúp đỡ và tài trợ về kinh phí của Ban quản lý Di sản Thiên nhiên Thế giới Vịnh Hạ Long, Đại sứ quán Vương quốc Hà Lan, Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế (IUCN) tại Việt Nam, các chuyên gia thực vật của Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Vườn thực vật Singapore và hoạ sỹ Wendy Gibb đã tiến hành nhiều đợt khảo sát thực địa tại khu di sản. Kết quả đã xuất bản cuốn sách Thực vật tự nhiên ở Vịnh Hạ Long, trong đó giới thiệu 38 loài thực vật phổ biến, có hình vẽ màu minh hoạ (Nguyễn Tiến Hiệp & Ruth Kiew, 2000). Các nghiên cứu tiếp theo đã công bố 8 loài thực vật mới cho khoa học từ Vịnh Hạ Long (Nguyễn 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tiến Hiệp & Ruth Kiew, 2000; Nguyễn Quốc Bình & M.
Những năm gần đây, Vịnh Hạ Long – Cát Bà đã được chọn làm điểm trình diễn của nhiều Dự án Quốc gia và Quốc tế như SAREC/SIDA/MOSTE/HIO (Pha I, II và III); Dự án “Nghiên cứu quản lý môi trường Vịnh Hạ Long” của JICA/MOSTE/UBND tỉnh Quảng Ninh do Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng thực hiện; các đề tài trong Chương trình biển như KT0311 (1991 – 1995); Dự án “Bảo tồn đa dạng sinh học Vịnh Hạ Long” do EU tài trợ; Dự án ‘‘Nghiên cứu các giá trị đa dạng sinh học Vịnh Hạ Long phục vụ cho việc quản lý, phát huy giá trị đa dạng sinh học của Di sản’’ (2007-2009) được UBND tỉnh Quảng Ninh tài trợ kinh phí. Mới đây nhất là đề tài “Điều tra, đánh giá đa dạng thực vật và tìm kiếm các loài thực vật có chứa hoạt tính sinh học tại các đảo Vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh và đề xuất các giải pháp bảo tồn, sử dụng bền vững” do TS. Nguyễn Thế Cường làm chủ nhiệm đề tài đã tiến hành đánh giá hiện trạng thành phần loài thực vật bậc cao có mạch trên cạn của các đảo Vịnh Hạ Long Tuy nhiên cho đến nay chưa có đánh giá chi tiết, cụ thể và mang tính hệ thống về các loài thực vật đặc hữu trên các đảo của vịnh Hạ Long. Hiện trạng đa dạng thực vật, các loài đặc hữu và công tác quản lý đa dạng sinh học tại vịnh Hạ Long 1.
Hiện trạng hệ thực vật khu vực vịnh Hạ Long - Vườn Quốc gia Cát Bà Hệ thực vật khu vực vịnh Hạ Long - Vườn Quốc gia (VQG) Cát Bà nằm trong hệ thực vật vùng ven biển và đảo ven bờ Đông Bắc với đại diện là hệ thực vật tại các khu vực ven biển từ Móng Cái đến Tiên Yên, Vườn Quốc gia (VQG) Bái Tử Long, khu vực Hạ Long - VQG Cát Bà, ven biển từ cửa Văn Úc đến cửa Lạch Trường.