ĐẶT VẤN ĐỀ Bảo tồn đa dạng sinh học là một trong những vấn đề quan trọng đang đƣợc cả thế giới quan tâm. Mà đa dạng sinh học thì hệ thực vật có ý nghĩa hàng đầu vì thực vật là mắt xích đầu tiên trong chuỗi thức ăn của các hệ sinh thái. Thực vật là nơi sống, nơi tồn tại của các loài sinh vật. Sự tồn tại và phát triển của thực vật chính là nền tảng cho sự phát triển và sự tiến hoá của sinh giới.
Sự kết hợp giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững, đã trở thành vấn đề thảo luận sôi nổi trên các diễn đàn khoa học trong những năm gần đây và đƣợc chính thức công nhận tại Hội nghị Liên hiệp quốc về Môi trƣờng và phát triển bền vững (UNCED) ở Rio de janeiro ( tháng 6 năm 1992). Tính đa dạng các loài thực vật cây gỗ ở Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thƣợng đƣợc xem là một khu vực điển hình của hệ sinh thái rừng kín thƣờng xanh núi thấp có diện tích rừng tự nhiên tập trung lớn nhất vùng Đông Bắc Việt Nam với nhiều loài thực vật, động vật rừng qúi hiếm. Tuy nhiên, sự đa dạng này đang bị đe dọa bởi một số tác động tiêu cực của con ngƣời; các tác động này đang làm thay đổi tính đa dạng sinh học của hệ thực vật rừng, đặc biệt một số loài xuất hiện trong Sách đỏ ngày càng nhiều, số lƣợng loài ngày càng giảm. Trƣớc tình hình thực tế đó khu Bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thƣợng đƣợc thành lập theo quyết định số 1672/QĐ-UB ngày 22/5/2002 của UBND tỉnh Quảng Ninh với diện tích tự nhiên 17.792 ha, nằm trọn trong địa phận 5 xã Đồng Sơn, Kỳ Thƣợng, Đồng Lâm, Vũ Oai và xã Hoà Bình sát với đƣờng dông núi cao ranh giới với huyện Ba Chẽ và thành phố C m Phả cho nên khu bảo tồn cao ở phía Tây Bắc và thấp dần về phía Đông Nam.
Khu bảo tồn nằm trong vùng núi đất, có nhiều đỉnh núi cao và có nhiều thung lũng nhỏ lại bị chia cắt nhiều bởi hệ thống các dông núi phụ và các suối nƣớc, khá thuận lợi cho khai thác trái phép các loài lâm sản trong LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 những năm qua nên rừng trong Khu Bảo tồn không đồng nhất, bị chia cắt thành nhiều mảng, nhiều kiểu, nhiều trạng thái khác nhau. Tuy nhiên, từ khi thành lập KBTTN Đồng Sơn - Kỳ Thƣợng cho đến nay, chƣa có một chƣơng trình điều tra, đánh giá tình trạng bảo tồn loài và nhóm loài thực vật rừng quý hiếm trong phạm vi khu bảo tồn. Để nắm đƣợc thực trạng bảo tồn và làm cơ sở để xuất các giải pháp quản lý, việc điều tra tình trạng quản lý, bảo vệ các loài thực vật nguy cấp, quý hiếm. Cho nên tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn thực vật quý hiếm tại Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng, Quảng Ninh”.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu thực vật Nghiên cứu thực vật trên thế gi i Trên thế giới, nghiên cứu về thực vật đã có từ rất lâu. Theophraste (370 - 285 trƣớc Công nguyên), ngƣời đầu tiên đề xuất ra một phƣơng pháp phân loại thực vật, trong các tác ph m “Lịch sử thực vật” và “Cơ sở thực vật” đã mô tả đƣợc gần 500 loài cây, phân thành cây to, cây nhỡ, cây nhỏ, cây cỏ, cây sống trên cạn, cây sống dƣới nƣớc, cây thƣờng xanh hay rụng lá, cây có hoa hay không có hoa, cây trồng hay cây dại. Engler (1882) đƣa ra con số thống kê cho thấy số loài thực vật thế giới là 275.000 loài, trong đó thực vật có hoa có 155.000 loài, thực vật không có hoa 30.
Riêng thực vật có hoa trên thế giới, Van lop (1940) đƣa ra con số 200.000 loài, Grosgayem (1949) là 300. Hai vùng giàu có nhất thế giới là Brazil 40.000 loài và quần đảo Malaixia 45. Hệ thực vật giàu loài liên quan không chỉ có điều kiện khí hậu và đất đai thuận lợi mà còn phụ thuộc vào các nhân tố lịch sử. Trung Âu có 3500 loài, 800 chi, 120 họ trong khi đó ở Trung Trung Hoa có 2900 loài 936 chi 155 họ (1/6/12,2) (Dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2008) [23].
Theo Phạm Hoàng Hộ (1999-2003) hệ thực vật trên thế giới nhƣ sau: Pháp có khoảng 4.800 loài, châu Âu 11.000 loài, Ấn Độ khoảng 12-14.000 loài, Canada có khoảng 4.500 loài kể cả loài du nhập, cả Bắc Mỹ có trên 14.000 loài, Malaysia và Indonesia có khoảng 25. Lê Trần Chấn và cộng sự (1999) [8], đƣa ra con số về số lƣợng loài thực vật ở các vùng nhƣ sau: vùng hàn đới (đất mới: 208 loài); vùng ôn đới (Litva: 1439 loài), cận nhiệt đới (Palextin: 2334 loài); vùng nhiệt đới m và nhiệt đới gió mùa (Philippin: 8099 loài, Bắc Việt Nam: 5609 loài. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Nghiên cứu về hệ thực vật Trung Quốc có thể kể một số tác giả nhƣ: Dunn S. (1912) [31] về thực vật chí Quảng Đông và Hồng Kông; Chen Feng-hwai và Wu Te-lin (1987-2006) [30] về thực vật chí Quảng Đông; Huang Tseng-chieng (1994-2003) [32] đã cho ra đời bộ thực vật Đài Loan; Wu Zheng-yi và Raven P.
(1994-2007) với thực vật chí Trung Quốc, Wu Te-lin (2002) [40] với Danh lục các loài thực vật Hồng Kông. Mới đây nhất, năm 2008, Hu Shiu-ying [33] đã công bố cuốn Thực vật chí Hồng Kông. Nghiên cứu thực vật tại iệt N m Nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam đã có từ lâu. Ta có thể nhắc tới một số tác giả nhƣ: Tuệ Tĩnh (1417), trong cuốn “ Nam dƣợc thần hiệu” đã mô tả tới 579 loài cây làm thuốc.
Song việc điều tra nghiên cứu thực vật có tính quy mô lớn ở nƣớc ta mới chỉ bắt đầu vào thời Pháp thuộc. Các công trình nghiên cứu về thực vật có giá trị đều do các tác giả nƣớc ngoài thực hiện nhƣ: “Thực vật ở Nam Bộ” của Loureiro (1790-), “Thực vật rừng Nam Bộ” của Pierre (1879-1899). Các nghiên cứu này cũng chỉ dừng lại ở việc thống kê và mô tả số lƣợng loài thực vật ở Việt Nam. Để phục vụ công tác khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên thực vật, Bộ Lâm nghiệp đã công bố 07 tập Cây gỗ rừng Việt Nam (1971 - 1988) [5], đến năm 1996 công trình này đã đƣợc Vũ Văn Dũng dịch sang tiếng Anh.
Trần Đình Lý (1993) đã công bố 1900 cây có ích ở Việt Nam [17]; V Văn Chi (1996) đã công bố Từ điển cây thuốc Việt Nam [9] với 3105 loài cây sử dụng làm thuốc. Trong cuốn “C m nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín (Magnoliophyta, Angiospermae) ở Việt Nam”, Nguyễn Tiến Bân (1997) [3] đã giới thiệu 265 họ, khoảng 2300 chi thuộc ngành hạt kín ở nƣớc ta. Trong cuốn sách, vị trí và khối lƣợng các họ đƣợc thừa nhận theo hệ thống Takhtajan - 1973, một hệ thống tƣơng đối đƣợc biết nhiều ở Việt Nam. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Theo hƣớng kiểm kê thành phần loài, và mô tả đặc điểm các loài có công trình: "Cây cỏ Việt Nam" của Phạm Hoàng Hộ (1999-2003) [14].
Trong đó, Phạm Hoàng Hộ đã thống kê đƣợc số loài thực vật hiện có của Việt Nam tới 11.611 loài, gần đạt số lƣợng 12.000 loài theo dự đoán của nhiều nhà thực vật học. Trong tài liệu về Tài nguyên cây gỗ Việt Nam, Trần Hợp (2000) [15], đã mô tả đặc điểm nhận biết, phân bố và giá trị sử dụng của 1566 loài cây gỗ phổ biến từ Bắc vào Nam. Trong đó các loài đƣợc sắp xếp theo hệ thống tiến hóa của Armen Takhtajan về các ngành Quyết thực vật, ngành thực vật Hạt trần (1986), ngành thực vật Hạt kín (1987). Để làm tài liệu tra cứu tên cây rừng, Bộ Nông nghiệp và PTNT (2000) [6], đã biên soạn cuốn sách “Tên cây rừng Việt Nam”, trong đó tác giả đã sắp xếp thành các bảng theo thứ tự: Bảng 1: Tên Việt Nam thƣờng dùng với 4544 loài thực vật; Bảng 2: Tên khoa học; Bảng 3: Tên thƣơng mại một số loại gỗ và lâm sản khác; Bảng 4: bảng tra các họ theo tên Việt Nam; Bảng 5: bảng tra các họ theo tên la tinh.
Bộ sách đầy đủ nhất góp phần cho nghiên cứu khoa học thực vật ở Việt Nam, nhiều tên khoa học mới đƣợc cập nhật và chỉnh lý, đó là Danh lục các loài thực vật Việt Nam tập I (2001) [26], tập II (2003), tập III (2005) [4], trong tài liệu này, các tác giả đã thống kê đƣợc 368 loài vi khu n lam, 2.176 loài Tảo, 481 loài Rêu, 1 loài Quyết lá thông, 53 loài Thông đất, 2 loài cở tháp bút, 691 loài dƣơng xỉ, 69 loài thực vật hạt trần và 13.000 loài thực vật hạt kín, đƣa tổng số loài thực vật Việt Nam lên đến gần 20. Trên cơ sở tổng kết các tài liệu đã công bố, Nguyễn Nghĩa Thìn (2008) [23] đã thống kê số taxon của hệ thực vật bậc cao của Việt Nam có 11.428 chi và 395 họ. Nhƣ vậy, nghiên cứu về đa dạng thực vật ở Việt Nam đã đƣợc nghiên cứu khá toàn diện, đặc biệt ở các Khu bảo tồn thiên nhiên, đây là một bộ dữ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 liệu quan trọng phục vụ công tác nghiên cứu. Có nhiều phƣơng pháp điều tra khác nhau, tuy nhiên chủ yếu vẫn sử dụng những phƣơng pháp điều tra truyền thống trong lâm học, thiếu những thiết bị hiện đại nên đã phần nào ảnh hƣởng đến độ chính xác của số liệu.
Kết quả điều tra đã đƣa ra đƣợc số liệu về thành phần loài thực vật, giá trị sử dụng, yếu tố địa lý ở các khu vực nghiên cứu. Nhƣng những khu bảo tồn nhỏ, mới thành lập thì việc nghiên cứu còn nhiều hạn chế.Tổng quan về nghiên cứu bảo tồn thực vật 1. Trên thế gi i - Bảo tồn và sử dụng hợp lý các tài nguyên sinh học đã trở thành một chiến lƣợc chung trên toàn cầu. Nhiều tổ chức quốc tế đã ra đời để hƣớng dẫn việc đánh giá bảo tồn đa dạng sinh học nhƣ: Công ƣớc ĐDSH; Hiệp Hội Bảo Tồn Thiên Nhiên Quốc Tế (IUCN), Chƣơng trình môi trƣờng liên hợp quốc (UNEP), Quỹ Quốc Tế Bảo Vệ Thiên Nhiên (WWF), viện thài nguyên Di truyền Quốc Tế (IPGRI), .