Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1, Trên thế giới Khái niệm và thuật ngữ về LSNG Thuật ngữ LSNG được thông qua trong hội nghị tư vấn lâm nghiệp Châu Á - Thái Bình Dương tại Băng Cốc, 5-8-1991: “lâm sản ngoài gỗ (Non - wood forest product, viết tắt là NWFPs) bao gồm những sản phẩm tái tạo được ngoài gỗ, củi và than gỗ, lâm sản ngoài gỗ được lấy từ rừng, đất rừng hoặc những cây thân gỗ”. Do đó không được coi là LSNG những sản phẩm như cát, đá, nước dịch vụ du lịch sinh thái[2]. Hội nghị lâm nghiệp do tổ chức nông lương liên hiệp quốc triệu tập từ tháng 6 năm 1999 đã đưa ra và thông qua một khái niệm và định nghĩa khác về LSNG “ Lâm sản ngoài gỗ (Non Timber Forest Product, viết tắt là NTFPs) bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, được được khai thác từ rừng, đất có rừng (wooded lands) và cây ở ngoài rừng[2]. Từ việc phân tích và tổng luận các quan điểm, quan niệm của hàng loạt tác giả trên thế giới về LSNG.
Đề tài đã hình thành nhận thức về LSNG như sau: Tuy có sự khác biệt giữa hai thuật ngữ sử dụng trong tiếng Anh là Non- timber forest products (NTFPs) và Non- Wood forest products (NWFPs) song cả hai thuật ngữ này đều được hiểu bằng tiếng Việt là LSNG. Tuy nhiên, nếu hiểu một cách chính xác hơn thì NTFPs là nhằm chỉ các lâm sản ngoài gỗ lớn (Timber-gỗ lớn), còn NWFPs nhằm chỉ các loài lâm sản ngoài gỗ nói chung. Vì vậy, một số loại sản phẩm như gỗ nhỏ, gỗ củi, ngọn cây.có thể xếp vào NTFPs, nhưng không thể xem chúng là NWFPs, như định nghĩa trên đã nêu. Trong thực tế, có nhiều loại sản phẩm cùng loại với LSNG được sản xuất trên đất không có rừng (như nấm, mộc nhĩ, măng, quả trám, hạt giổi, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 thảo dược,v.) nhưng chúng không phải là LSNG bởi vì: các lâm sản bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh học từ rừng hoặc từ một hệ thống sử dụng đất tương tự rừng theo định hướng lâm nghiệp.
Giá trị kinh tế –xã hội của LSNG Thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau, từ cung cấp lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng, nguyên liệu làm thủ công mỹ nghệ, dược phẩm, đến giải quyết công ăn, việc làm, phát triển ngành nghề, bảo tồn và phát huy kiến thức bản địa, tôn tạo nét đẹp văn hoá, xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống nhiều mặt cho người dân, đặc biệt là dân nghèo (FAO,1994; Sharma,1995)[22] Theo tổ chức FAO, LSNG đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo an toàn lương thực cho hộ gia đình. Chúng bổ sung cho hộ gia đình các sản phẩm nông nghiệp. Chúng đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc làm giảm những khó khăn thiếu thốn trong “giai đoạn đói” của nhà nông [22]. LSNG có tác dụng chống lại sự thất thường và đảm bảo tính sẵn có của lương thực và thực phẩm; đồng thời cũng đóng góp một phần đáng kể vào lượng chất dinh dưỡng của hộ gia đình.
Chúng cũng có giá trị như là những thành phần xã hội và văn hoá. Tuy nhiên, việc việc sử dụng và giá trị của LSNG là rất khác nhau từ vùng này đến vùng khác. Mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu về LSNG song cho đến nay những hiểu biết về LSNG còn rất hạn chế, đặc biệt là đối với những loài có giá trị kinh tế cao nên chưa phản ánh đầy đủ về nguồn tài nguyên LSNG vốn rất phong phú và đa dạng này và do đó chưa phát huy đầy đủ các chức năng có lợi của LSNG đối với nền kinh tế, đối với đời sống của người dân miến núi và đối với việc bảo tồn tính đa dạng sinh học và môi trường sinh thái. Để LSNG phát huy tốt hơn nữa trong sự phát triển miền núi cần tập trung nghiên cứu xác định đặc điểm sinh thái học cũng như kĩ thuật gây trồng, chăm sóc, nuôi dưỡng chúng gắn với quản lý bền vững; Đồng thời cần xây dựng và truyền bá những mô hình LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 trình diễn về cung cấp LSNG để người dân học tập và làm cơ sở chuyển giao công nghệ phát triển rừng cung cấp LSNG.
Theo De Beer (1996)[17] thì tài nguyên rừng và đặc biệt là tài nguyên LSNG là nguồn sống chủ yếu của ít nhất 27 triệu người dân ở vùng Đông Nam á. Cũng với cách nhìn nhận đó Peter (1989)[23]cho rằng, giá trị thu nhập hiện tại của LSNG có thể lớn hơn giá trị thu nhập hiện tại từ bất kì loại hình thức sử dụng đất nào. Vì vậy, việc bảo tồn và khai thác có kiểm soát nguồn tài nguyên này ở các địa phương cũng cần được ưu tiên về kinh tế so với các loại hình sử dụng đất khác. Song song với những phát hiện của The De Beer (1996) và Peter (1989), thông qua nghiên cứu của mình, Mendelsohn (1992)[25] đã đi đến kết luận là bằng cách duy trì tính nguyên vẹn của rừng tự nhiên, việc bảo tồn có khai thác có thể nuôi dưỡng tình da dạng sinh học cơ bản và bảo vệ môi trường sinh thái; đồng thời việc khai thác có kiểm soát nguồn tài nguyên LSNG sẽ góp phần cung cấp và đáp ứng các nhu cầu của xã hội về các loại LSNG một cách bền vững.
Theo Pilamber Sarrma (1995) [9] thách thức đối với sự phát triển miền núi trong giai đoạn hiện nay về cơ bản là vấn đề giảm được đói nghèo, tăng được các cơ hội lựa chọn việc làm, bảo tồn được môi trường và sinh cảnh vùng núi và bảo đảm các biện pháp phân bổ công bằng thông qua việc thu hút sự chú ý của phụ nữ và các nhóm có liên quan hoặc bị thiệt thòi. Trong bối cảnh của vùng núi thì LSNG là một trong số các tài nguyên mà nó liên kết với tất cả các khía cạnh của sự phát triển toàn vẹ miền núi. Chúng hầu như không có sự cạnh tranh và thường cung cấp việc sử dụng đất bổ sung có liên quan đến nông nghiệp vùng núi, nơi mà một trong những vấn đề chính là sự khan hiếm đất có khả năng canh tác. LSNG chỉ ra tiềm năng để thống nhất giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, mà sự thống nhất là một trong những LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 thách thức chủ yếu nhất trong phát triển miền núi.
Là nguồn gốc của việc làm và sự phục hồi nguồn thu nhập, các LSNG cũng có thể hỗ trợ và duy trì cho phát triển kinh tế đối với các vùng núi nghèo khó. Thật ra về mặt truyền thống thì LSNG đã là một phương kế cuối cùng đối với nền kinh tế tiêu điểm của những người nghèo. Sử dụng bền vững LSNG sẽ tạo ra sự cần thiết để duy trì bảo tồn sinh khối và bảo tồn đa dạng sinh học. LSNG cung cấp các cơ sở tiềm tàng cho sự tương tác và trao đổi giữa vùng cao và vùng thấp.
Với việc chế biến tốt hơn và các cơ hội tăng giá. LSNG có thể cung cấp cho các cộng đồng vùng núi cơ hội múa bán và khả năng thương lượng giá cả tốt hơn. Một số lượng lớn kiến thức dân gian liên quan đến LSNG được các cộng đồng miền núi sử dụng qua hàng thế kỷ và giúp ích nhiều cho việc bảo tồn tài nguyên này. LSNG ở vùng núi vẫn tiếp tục được thu hoạch từ các nguồn tài nguyên sở hữu cộng đồng vì thế LSNG tạo thuận lợi cho sự thúc đẩy các tiếp cận tham gia trong quản lý tài nguyên thiên nhiên và cũng có thể là phương tiện để giải quyết những nỗi lo toan về kinh tế của những người nghèo và của những nhóm người hoặc cộng đồng bị thiệt thòi trong xã hội.
Những nghiên cứu về khai thác, chế biến và thị trường LSNG Những nghiên cứu về khai thác cũng đã chỉ ra rằng, việc thu hoach các LSNG từ tự nhiên hoang dã và từ các loại hình canh tác khác còn nhiều bất cập, đặc biệt là về phương diện dụng cụ và thiết bị, công nghệ, việc chuẩn bị trước khai thác, xử lý sau thu hoặch và những đòi hỏi của chế biến trung gian. Do chưa quan tâm đến cộng nghệ sau thu hoạch nên thường gây lãng phí về cả số lượng và chất lượng trong quá trình thu hái, vận chuyển và cất trữ sản phẩm[22]. Theo tài liệu công bố của tổ chức FAO năm 1995[22] cho thấy có sự khác nhau trong hệ thống tổ chức thu hoạch LSNG. Một hệ thống thông thường là thu hái LSNG dựa vào người dân địa phương dưới các quyền được LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 quy định, họ đem bán ở thị trường địa phương hoặc sẽ nhận được một số tiền dưới các hình thức khác từ cơ quan mua bán lâm sản.
Một hệ thống khác là dựa vào các lao động thông thường hoặc lao động dưới hình thức hợp đồng, những người tiếp cận thị trường hoặc thông qua những người quản lý tài nguyên. Vì vậy hàng triệu người thu hái LSNG không có những đầu tư thích hợp cho các kỹ thuật thu hái đúng quy tắc và bền vững. - Về chế biến, những nghiên cứu về LSNG nhìn chung ít xem xét các sản phẩm có giá trị thương mại, mà lại tập trung vào viềc thay thế các sản phẩm mới, chúng đòi hỏi kinh phí nghiên cứu lớn, các phương tiện phức tạp. - Do tính chất đặc thù và đa dạng của LSNG nên cho đến nay những nghiên cứu về thị trường LSNG còn rất ít ỏi.
Một số nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng, mặc dù LSGN có giá trị to lớn, nhưng những người sản suất ra LSNG thì lại thu được hiệu quả rất thấp do sự hạn chế tiếp cận thông tin thị trường một cách có tổ chức hoặc thiếu các giải pháp kỹ thuật phù hợp để nâng cao chất lượng sản phẩm theo đòi hỏi của thị trường.