Tổng quan nghiên cứu
Tại các quốc gia nhiệt đới, tài nguyên rừng đóng vai trò nền tảng trong việc duy trì cân bằng sinh thái và bảo đảm sinh kế cho các cộng đồng dân cư bản địa. Tại Việt Nam, hơn 25 triệu người dân nông thôn miền núi đang sống phụ thuộc vào tài nguyên rừng, trong bối cảnh nguồn gỗ tự nhiên ngày càng suy thoái nghiêm trọng do áp lực khai thác vượt ngưỡng phục hồi. Tại vùng đệm Khu Bảo tồn Thiên nhiên Đakrông thuộc tỉnh Quảng Trị, diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp lên tới 14.416,25 ha, chiếm 91,55% tổng diện tích tự nhiên của hai xã Ba Lòng và Hải Phúc. Ngược lại, quỹ đất sản xuất nông nghiệp tại khu vực này vô cùng hạn hẹp khi chỉ đạt 602,71 ha (tương ứng 3,83% diện tích tự nhiên), khiến diện tích đất canh tác bình quân đầu người chỉ đạt khoảng 383 m2/người, trong đó đất trồng lúa nước hai vụ chỉ chiếm 82,78 ha.
Việc thành lập Khu Bảo tồn Thiên nhiên Đakrông từ năm 2001 với diện tích quản lý sau rà soát là 37.640 ha (gồm 23.590 ha phân khu bảo vệ nghiêm ngặt) đã tạo ra bước ngoặt lớn về quyền tiếp cận tư liệu sản xuất của người dân địa phương. Hơn 733 hộ gia đình với 3.427 nhân khẩu (gồm 1.772 lao động chính) tại hai xã Ba Lòng và Hải Phúc không còn được phát đốt nương rẫy trong vùng lõi, dẫn đến tình trạng thiếu đất canh tác gay gắt. Thu nhập bình quân đầu người tại khu vực chỉ đạt khoảng 500.000 đồng/tháng/người, cùng tỷ lệ hộ nghèo dao động từ 15% đến 20%. Trong điều kiện đó, lâm sản ngoài gỗ (LSNG) trở thành nguồn thu nhập cứu cánh và nguồn sống thiết yếu của người dân. Tuy nhiên, việc khai thác tự phát, thiếu quy hoạch và mang tính hủy diệt đã khiến trữ lượng LSNG suy giảm nhanh chóng, đe dọa trực tiếp đến 1.412 loài thực vật bậc cao và 24 loài quý hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam tại khu bảo tồn.
Trước thực trạng cấp bách đó, luận văn xác định mục tiêu đánh giá toàn diện hiện trạng, phân loại tiềm năng tài nguyên thực vật cho LSNG, xác định các yếu tố ảnh hưởng, từ đó tuyển chọn tập đoàn cây trồng có triển vọng và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ về kỹ thuật lâm sinh, thể chế quản lý và kinh tế - xã hội. Nghiên cứu được triển khai trên phạm vi toàn bộ diện tích rừng đặc dụng và vùng đệm của hai xã Ba Lòng và Hải Phúc trong giai đoạn 2010 - 2011. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc hiện thực hóa mục tiêu kép: bảo tồn nguyên vẹn tính đa dạng sinh học của 37.640 ha rừng đặc dụng Đakrông và nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững cho cộng đồng dân cư địa phương thông qua các mô hình kinh tế có tỷ suất sinh lời nội bộ và hệ số thu nhập trên chi phí đạt mức tối ưu.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng của hai lý thuyết quản lý tài nguyên then chốt trong lâm nghiệp hiện đại. Thứ nhất là Lý thuyết Quản lý Rừng Bền vững theo định hướng "Bảo tồn có khai thác" (Conservation through Commercialization/Sustainable Extraction) do Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc (FAO) khởi xướng. Lý thuyết này khẳng định việc khai thác có kiểm soát các sản phẩm sinh học phi gỗ dưới tán rừng tự nhiên giúp duy trì cấu trúc tầng tán, bảo tồn sinh khối và nguồn gen quý hiếm, đồng thời tạo ra động lực kinh tế để cộng đồng địa phương chủ động tham gia bảo vệ rừng. Thứ hai là Lý thuyết Quản lý Tài nguyên Dựa vào Cộng đồng (Community-Based Natural Resource Management - CBNRM), nhấn mạnh vai trò chia sẻ quyền lợi, chuyển giao trách nhiệm quản lý đất rừng cho hộ gia đình và phát huy tri thức bản địa trong bảo vệ hệ sinh thái.
Khung phân tích của đề tài tích hợp mô hình phát triển sinh kế bền vững và mô hình phân tích chuỗi giá trị lâm sản từ khâu thu hái, sơ chế, vận chuyển đến mạng lưới tiêu thụ thương mại. Các khái niệm trọng tâm được chuẩn hóa và vận dụng xuyên suốt bao gồm:
- Lâm sản ngoài gỗ (Non-Timber Forest Products - NTFPs / Non-Wood Forest Products - NWFPs): Toàn bộ các sản phẩm sinh học tái tạo được có nguồn gốc thực vật ngoài gỗ lớn và củi than, được thu thập từ hệ sinh thái rừng tự nhiên hoặc đất lâm nghiệp.
- Sức tải sinh thái và khả năng tái sinh: Ngưỡng khai thác tối đa cho phép đối với từng bộ phận thực vật (thân, lá, rễ, củ, hoa, quả) nhằm đảm bảo quần thể loài có khả năng tự phục hồi mà không làm suy thoái thảm thực vật.
- Tập đoàn cây trồng triển vọng: Danh mục các loài cây bản địa đáp ứng đồng thời ba nhóm tiêu chuẩn khắt khe về sinh thái học, hiệu quả kinh tế thương phẩm và tính khả thi trong kỹ thuật canh tác nông lâm kết hợp.
- Chia sẻ lợi ích rừng đặc dụng: Cơ chế pháp lý cho phép người dân vùng đệm tiếp cận và khai thác hợp lý một phần tài nguyên lâm sản phụ dưới sự giám sát của lực lượng kiểm lâm và ban quản lý khu bảo tồn.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ nguồn dữ liệu thứ cấp (báo cáo thống kê kinh tế - xã hội, hiện trạng sử dụng đất giai đoạn 2005 - 2010 của UBND huyện Đakrông, UBND xã Ba Lòng, UBND xã Hải Phúc và hồ sơ quy hoạch 3 loại rừng của Ban Quản lý Khu BTTN Đakrông) kết hợp chặt chẽ với dữ liệu sơ cấp điều tra thực địa.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu được thiết kế khoa học:
- Khảo sát thực địa lâm sinh: Thiết lập 15 tuyến điều tra điển hình cắt qua các kiểu địa hình đồi núi dốc từ 20 đến trên 30 độ và 30 ô tiêu chuẩn điển hình (diện tích 500 m2 đến 1.000 m2/ô) đại diện cho 8 kiểu trạng thái rừng chính (từ rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, rừng phục hồi sau nương rẫy đến rừng hỗn giao tre nứa).
- Khảo sát kinh tế - xã hội: Áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng để phỏng vấn sâu 120 hộ gia đình (chiếm hơn 16% tổng số 733 hộ tại 2 xã), bảo đảm cơ cấu đại diện giữa người Kinh tại xã Ba Lòng (chiếm đa số) và đồng bào dân tộc thiểu số Vân Kiều tại xã Hải Phúc (chiếm trên 71% số hộ của xã).
Phương pháp phân tích được lựa chọn gồm:
- Đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA): Sử dụng các công cụ phỏng vấn bán cấu trúc (SSI), thảo luận nhóm tập trung, vẽ sơ đồ lát cắt không gian và lập sơ đồ dòng luân chuyển sản phẩm LSNG. Phương pháp này được chọn vì cho phép thu thập chính xác tri thức bản địa của người dân tộc Vân Kiều về mùa vụ, kỹ thuật thu hái và giá bán sản phẩm thực tế.
- Phương pháp ma trận phân loại đa tiêu chí: Đánh giá tập đoàn cây trồng dự tuyển dựa trên việc chấm điểm từ 1 đến 10 theo 3 nhóm chỉ tiêu chính: tính phù hợp sinh thái, giá trị kinh tế thương phẩm và khả năng chấp nhận của xã hội.
- Phương pháp phân tích tài chính tĩnh và động: Tính toán các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế trên chu kỳ 10 năm với mức lãi suất chiết khấu 10% thông qua các chỉ số Giá trị hiện tại ròng (NPV), Tỷ số lợi ích trên chi phí (BCR) và Tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR). Phương pháp này giúp định lượng chính xác mức độ sinh lời và thời gian thu hồi vốn của từng loài cây trồng bổ sung. Toàn bộ tiến trình điều tra thực địa và xử lý dữ liệu được hoàn tất trong mốc thời gian từ năm 2010 đến tháng 9 năm 2011.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Kết quả điều tra thực địa đã chứng minh tính phong phú vượt trội của khu hệ thực vật tại vùng đệm Khu BTTN Đakrông với tổng số 1.412 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 528 chi và 149 họ. Trong đó, ngành thực vật hạt kín lớp hai lá mầm chiếm ưu thế tuyệt đối với 1.171 loài (thuộc 107 họ), lớp một lá mầm có 198 loài (thuộc 25 họ), ngành dương xỉ có 30 loài (12 họ), ngành thông có 10 loài (3 họ) và ngành thông đất có 3 loài (2 họ). Toàn khu vực ghi nhận 24 loài thực vật quý hiếm nằm trong Sách Đỏ Việt Nam, bao gồm 1 loài đang nguy cấp (E), 5 loài sẽ nguy cấp (V), 7 loài hiếm (R), 2 loài bị đe dọa (T) và 9 loài chưa xác định chính xác (K) như Trầm hương, Hoàng đàn giả, Vũ hương, Kim giao, Huyết đằng, Rau sắng và Vàng đắng.
Riêng về tài nguyên LSNG, đề tài đã phát hiện và lập danh mục 358 loài thực vật có giá trị sử dụng, được phân chia thành 8 nhóm công dụng chính:
- Nhóm cây làm dược liệu chiếm tỷ trọng lớn nhất với 186 loài (chiếm 51,96% tổng số loài LSNG), tiêu biểu như Hà thủ ô, Hoàng đằng, Huyết dụ, Thiên niên kiện, Bách bộ, Chè dây, Lá vằng, Đào tiên, Củ bình vôi và Ba kích.
- Nhóm cây cảnh và bóng mát có 55 loài (chiếm 15,36%), nổi bật là Phong lan, Lộc vừng, Si, Đa, Tuế, Đỗ quyên và Bằng lăng.
- Nhóm cây cho tinh dầu gồm 34 loài (chiếm 9,50%), điển hình như Re hương, Gió trầm, Màng tang, Bời lời và Thiên niên kiện.
- Nhóm cây cung cấp lương thực, thực phẩm gồm 27 loài (chiếm 7,54%) với các loại măng rừng, Trám, Bứa, Sấu, Rau sắng và Củ mài.
- Nhóm cây làm nguyên liệu thủ công mỹ nghệ có 24 loài (chiếm 6,70%), trong đó có 11 loài song mây (Mây nếp, Mây voi, Mây đắng, Mây nước, Song mật), Tre, Lồ ô, Nứa, Lá nón và Lá tro.
- Nhóm cây cho tanin và chất nhuộm gồm 15 loài (chiếm 4,19%) như Dung, Sồi, Thành ngạnh, Củ nâu.
- Nhóm cây đa tác dụng có 13 loài (chiếm 3,63%) và nhóm cây làm dầu béo gồm 4 loài (chiếm 1,12%) như Trẩu, Thầu dầu, Sến.
Khảo sát thực trạng khai thác cho thấy áp lực sinh kế đè nặng lên tài nguyên rừng. Hơn 20% số hộ gia đình tại hai xã thường xuyên tham gia khai thác song mây, tre nứa và lá nón trong thời gian nông nhàn để bán cho thương lái. Phương thức khai thác hiện tại mang tính hủy diệt nghiêm trọng: 100% các loài cây cảnh quý như Lan rừng, Tuế, Lộc vừng bị bứng cả gốc khiến cây không còn khả năng tái sinh; các loài dược liệu lấy củ như Củ mài, Củ nâu, Bình vôi bị đào bới toàn bộ rễ củ.
Thông qua phương pháp ma trận đánh giá cho điểm đa tiêu chí kết hợp phân tích tài chính chu kỳ 10 năm, nghiên cứu đã tuyển chọn được tập đoàn cây trồng có triển vọng kinh tế và sinh thái cao nhất gồm: Mây nếp, Song mật, Lá nón, Chè dây, Thiên niên kiện và Bời lời. Kết quả hạch toán kinh tế khẳng định mô hình trồng xen Mây nếp và dược liệu dưới tán rừng sản xuất mang lại hiệu quả vượt bậc với tỷ suất thu nhập trên chi phí BCR đạt từ 1,85 đến 2,40, giá trị NPV đạt trên 45 triệu đồng/ha, tạo nguồn thu nhập cao gấp 2,5 lần so với phương thức canh tác lúa nương truyền thống.
Thảo luận kết quả
Thực trạng suy giảm tài nguyên LSNG tại vùng đệm Đakrông xuất phát từ nhiều nguyên nhân mang tính hệ thống. Về mặt nhận thức, kết quả phỏng vấn chỉ ra rằng có tới 80% số hộ dân cho rằng "rừng là của nhà nước", dẫn đến tâm lý khai thác tự do, thiếu trách nhiệm giữ gìn. Về mặt kinh tế, quỹ đất sản xuất nông nghiệp quá ít ỏi (chỉ 602,71 ha cho 3.427 người) buộc người dân phải chuyển đổi ngày công lao động nhàn rỗi sang khai thác lâm sản để trang trải chi phí sinh hoạt hàng ngày. Về mặt kỹ thuật, việc thiếu hụt công nghệ sơ chế và bảo quản sau thu hoạch khiến 15% đến 20% sản lượng LSNG bị suy giảm phẩm cấp thương phẩm, tạo cơ hội cho thương lái ép giá thu mua ở mức thấp.
So sánh với các nghiên cứu kinh điển về LSNG của FAO tại Đông Nam Á và các công trình nghiên cứu tại Vườn Quốc gia Pù Mát (Nghệ An), kết quả tại Đakrông có sự tương đồng sâu sắc: LSNG luôn đóng vai trò là "lưới an sinh xã hội" cho các hộ nghèo trong các giai đoạn giáp hạt. Tuy nhiên, sự khác biệt của vùng đệm Đakrông nằm ở tỷ lệ áp đảo của nhóm cây dược liệu (chiếm 51,96%) và nhóm song mây có trữ lượng tự nhiên lớn, mở ra tiềm năng thương mại hóa theo hướng chuyên canh nông lâm kết hợp dưới tán rừng đặc dụng.
Các phát hiện về cấu trúc tổ thành loài thực vật và chuỗi cung ứng LSNG có thể được trực quan hóa rất hiệu quả thông qua biểu đồ cơ cấu tỷ lệ 8 nhóm công dụng và sơ đồ dòng luân chuyển hàng hóa từ người khai thác trực tiếp qua mạng lưới thương lái địa phương đến các cơ sở chế biến thủ công mỹ nghệ tại Thừa Thiên Huế và thị xã Quảng Trị.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm quản lý bền vững và phát triển nguồn tài nguyên LSNG, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể sau:
-
Quy hoạch vùng gây trồng tập trung và hoàn thiện kỹ thuật lâm sinh:
Tiến hành trồng phục hồi và phát triển bổ sung 150 ha mô hình nông lâm kết hợp với các loài cây mũi nhọn gồm Mây nếp, Song mật, Lá nón và cây dược liệu (Thiên niên kiện, Chè dây, Ba kích) dưới tán rừng tự nhiên nghèo kiệt và rừng trồng sản xuất. Xây dựng 2 vườn ươm giống lâm nghiệp tại xã Ba Lòng với công suất cung ứng đạt 50.000 cây giống chất lượng cao mỗi năm. Thời gian thực hiện từ năm 2012 đến 2015, do Ban Quản lý Khu BTTN Đakrông chủ trì phối hợp với Trung tâm Khuyến nông tỉnh Quảng Trị.
-
Hoàn thiện thể chế giao đất, giao khoán rừng và cơ chế chia sẻ lợi ích:
Hoàn thành việc giao khoán 1.970,25 ha đất rừng sản xuất và các diện tích phân khu phục hồi sinh thái cho 100% cộng đồng thôn bản và hộ gia đình quản lý. Ban hành quy chế khai thác LSNG có cấp phép, quy định rõ hạn ngạch khai thác tối đa không quá 30% sinh khối tái sinh hàng năm đối với thân mây và lá nón, cấm triệt để việc đào bứng toàn phần các loài cây cảnh và rễ dược liệu quý. Tiến độ thực hiện trong giai đoạn 2012 - 2014, do Chi cục Kiểm lâm Quảng Trị và UBND huyện Đakrông chỉ đạo thực hiện.
-
Nâng cao năng lực kỹ thuật thu hái, sơ chế và phát triển chuỗi liên kết thị trường:
Tổ chức 12 khóa tập huấn kỹ thuật lâm sinh về thu hái bền vững và kỹ thuật bảo quản sau thu hoạch cho tối thiểu 500 lao động tại hai xã Ba Lòng và Hải Phúc. Thành lập 2 hợp tác xã dịch vụ thu mua và sơ chế LSNG tại chỗ nhằm giảm bớt khâu trung gian, giúp gia tăng giá trị thương phẩm thêm 25% đến 30%. Thời gian triển khai định kỳ hàng năm từ 2012 đến 2015, do UBND hai xã phối hợp với Hội Nông dân huyện Đakrông phụ trách.
-
Lồng ghép nguồn vốn tín dụng ưu đãi và chính sách phát triển sinh kế:
Tận dụng các nguồn vốn từ Chương trình mục tiêu quốc gia 135, Nghị quyết 30a của Chính phủ và Quỹ Bảo tồn Việt Nam (VCF) để hỗ trợ 100% các hộ nghèo tiếp cận gói vay vốn ưu đãi từ 5 đến 10 triệu đồng/hộ nhằm phục vụ mua cây giống, phân bón và vật tư nông lâm nghiệp. Thời gian giải ngân hàng năm, do Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Đakrông quản lý và điều phối.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng chính:
-
Ban Quản lý các Khu Bảo tồn Thiên nhiên, Vườn Quốc gia và Ban Quản lý Rừng phòng hộ:
Cung cấp khung phương pháp luận đánh giá tài nguyên và mô hình phân vùng quản lý "Bảo tồn có khai thác", giúp các đơn vị xây dựng phương án quản lý rừng bền vững, hóa giải mâu thuẫn giữa nhiệm vụ bảo vệ nghiêm ngặt 37.640 ha vùng lõi và nhu cầu sinh kế của cư dân vùng đệm.
-
Cơ quan quản lý nhà nước về lâm nghiệp và chính quyền địa phương (Sở NN&PTNT, Chi cục Kiểm lâm, UBND các huyện miền núi):
Cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm phục vụ việc hoạch định chính sách giao đất lâm nghiệp, xây dựng hạn ngạch khai thác lâm sản phụ và thiết kế các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số.
-
Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng và Sinh thái học:
Tài liệu tham khảo chuyên sâu về phương pháp kết hợp giữa điều tra lâm sinh định lượng (ô tiêu chuẩn, tuyến điều tra) với các công cụ đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) và phân tích hiệu quả tài chính động (NPV, BCR, IRR) trong nghiên cứu kinh tế lâm nghiệp.
-
Doanh nghiệp kinh doanh dược liệu, cơ sở chế biến thủ công mỹ nghệ và các tổ chức phi chính phủ (NGOs):
Nguồn dữ liệu thị trường chi tiết về danh mục 358 loài LSNG (đặc biệt là 186 loài cây thuốc và 24 loài thủ công mỹ nghệ), giúp định hướng đầu tư phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn và triển khai các dự án sinh kế cộng đồng tại khu vực miền Trung.
Câu hỏi thường gặp
-
Tại sao phát triển lâm sản ngoài gỗ lại được xem là giải pháp then chốt cho vùng đệm Khu BTTN Đakrông?
Bởi vì quỹ đất lâm nghiệp chiếm tới 91,55% (14.416,25 ha) trong khi đất nông nghiệp chỉ chiếm 3,83%, trung bình mỗi người dân chỉ có 383 m2 đất canh tác. LSNG là nguồn thu nhập duy nhất có thể tận dụng không gian dưới tán rừng tự nhiên và rừng trồng mà không làm thay đổi mục đích sử dụng đất, cung cấp việc làm cho 1.772 lao động trong mùa nông nhàn.
-
Những loài lâm sản ngoài gỗ nào có tiềm năng gây trồng và mang lại giá trị thương phẩm cao nhất tại khu vực?
Qua đánh giá ma trận đa tiêu chí, các loài có triển vọng vượt trội nhất gồm Mây nếp, Song mật, Lá nón, Thiên niên kiện, Chè dây và Bời lời. Trong đó, mô hình trồng Mây nếp xen dưới tán rừng ghi nhận hệ số BCR đạt trên 1,85 và giá trị NPV đạt hơn 45 triệu đồng/ha sau chu kỳ 10 năm.
-
Nguyên nhân chủ yếu nào khiến tài nguyên lâm sản ngoài gỗ tại địa phương bị suy thoái nghiêm trọng?
Suy thoái bắt nguồn từ phương thức khai thác tận diệt (đào cả gốc rễ dược liệu, bứng trọn cây cảnh), kỹ thuật sơ chế thủ công gây thất thoát 15% đến 20% giá trị, cùng nhận thức chưa đúng khi 80% hộ dân khảo sát cho rằng rừng thuộc sở hữu nhà nước nên không có ý thức bảo tồn lâu dài.
-
Đề tài đã sử dụng phương pháp nào để sàng lọc và lựa chọn tập đoàn cây trồng ưu tiên?
Tác giả đã kết hợp phương pháp ma trận phân loại đa tiêu chí với công cụ đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) và tham vấn chuyên gia. Tập đoàn cây được chấm điểm từ 1 đến 10 dựa trên 3 trụ cột đồng bộ: mức độ thích ứng sinh thái địa phương, giá trị kinh tế thương phẩm và khả năng nhân rộng trong cộng đồng dân cư.
-
Làm thế nào để vừa bảo tồn đa dạng sinh học vừa khai thác hiệu quả kinh tế từ lâm sản ngoài gỗ?
Cần áp dụng cơ chế "Bảo tồn có khai thác" thông qua giao khoán bảo vệ 1.970,25 ha rừng sản xuất cho cộng đồng, áp dụng hạn ngạch khai thác dưới 30% sinh khối tái sinh hàng năm, đồng thời gây trồng bổ sung 150 ha LSNG bản địa dưới tán rừng nghèo kiệt để giảm thiểu áp lực khai thác lên vùng lõi khu bảo tồn.
Kết luận
- Luận văn đã xây dựng cơ sở dữ liệu khoa học toàn diện về khu hệ thực vật với 1.412 loài thực vật bậc cao và định lượng chi tiết 358 loài LSNG thuộc 8 nhóm công dụng tại hai xã Ba Lòng và Hải Phúc.
- Phân tích sâu sắc thực trạng áp lực sinh kế của 733 hộ dân trong điều kiện đất nông nghiệp chỉ chiếm 3,83%, chỉ rõ các nguyên nhân dẫn đến suy thoái tài nguyên rừng tự nhiên do khai thác tự phát và thiếu cơ chế chia sẻ lợi ích.
- Tuyển chọn thành công tập đoàn cây trồng mũi nhọn (Mây nếp, Song mật, Lá nón, Thiên niên kiện, Chè dây) với hiệu quả tài chính chu kỳ 10 năm đạt BCR từ 1,85 đến 2,40 và NPV đạt trên 45 triệu đồng/ha.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao, gắn kết chặt chẽ giữa kỹ thuật gây trồng lâm sinh, giao khoán đất rừng và tổ chức chuỗi giá trị thị trường.
- Thiết lập lộ trình hành động cụ thể cho giai đoạn 2012 - 2015, góp phần bảo vệ bền vững 37.640 ha rừng đặc dụng Khu BTTN Đakrông và giảm tỷ lệ nghèo từ 15% - 20% xuống mức thấp hơn.
Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn vững chắc để chuyển đổi phương thức quản lý tài nguyên từ ngăn cấm thụ động sang quản lý có sự tham gia của cộng đồng. Trong thời gian tới, các cơ quan ban ngành cần sớm triển khai thí điểm mô hình trồng 150 ha LSNG bản địa và hoàn thiện cơ chế giao khoán rừng. Hãy tham khảo và áp dụng các kết quả nghiên cứu của luận văn để nâng cao hiệu quả bảo tồn và phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững!