Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam được ghi nhận là một trong những trung tâm đa dạng sinh học hàng đầu thế giới với hàng nghìn loài động thực vật đặc hữu, quý hiếm. Tuy nhiên, áp lực khai thác quá mức và săn bắt trái phép đã đặt nhiều nguồn gen vào tình trạng nguy cấp. Hoạt động nhân nuôi động vật hoang dã nổi lên như một hướng phát triển kinh tế nông nghiệp nhiều tiềm năng, vừa tạo sinh kế bền vững vừa giảm áp lực khai thác tự nhiên.

Tại tỉnh Ninh Bình, nơi có 19.033 ha rừng và địa hình bán sơn địa đặc trưng, ngành chăn nuôi động vật hoang dã đã hình thành nhưng chủ yếu mang tính tự phát. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện hiện trạng quản lý, kỹ thuật và hiệu quả kinh tế của nghề nuôi động vật hoang dã trên địa bàn toàn tỉnh, từ đó thiết lập hệ thống giải pháp quản lý bền vững.

Phạm vi nghiên cứu bao quát 8 huyện, thành phố thuộc tỉnh Ninh Bình với dữ liệu thu thập xuyên suốt giai đoạn 2016 - 2018, kết hợp các đợt khảo sát thực địa từ tháng 3/2018 đến tháng 10/2018. Kết quả khảo sát toàn diện ghi nhận địa phương hiện có 153 hộ và cơ sở nhân nuôi thương mại với tổng đàn 7.865 cá thể thuộc 13 loài, đồng thời quản lý 1.634 cá thể thuộc 57 loài phục vụ công tác cứu hộ, bảo tồn tại Vườn quốc gia Cúc Phương.

Ý nghĩa của công trình thể hiện ở việc xây dựng cơ sở dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác, phân tích các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật đặc thù và cung cấp căn cứ khoa học giúp cơ quan quản lý hoàn thiện chính sách chuyển đổi cơ cấu vật nuôi nông thôn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết quản trị tài nguyên sinh vật bền vững và nguyên lý bảo tồn chuyển vị (ex-situ conservation) kết hợp với bảo tồn tại chỗ (in-situ conservation). Khung lý thuyết này khẳng định việc gây nuôi sinh sản nhân tạo có kiểm soát giúp duy trì vốn gen quý, đồng thời tạo nguồn cung hợp pháp trên thị trường tiêu dùng để triệt tiêu động lực săn bắt ngoài tự nhiên. Bên cạnh đó, mô hình kinh tế nông hộ và lý thuyết chuỗi giá trị nông nghiệp được áp dụng nhằm định lượng hóa các dòng chi phí, giá trị gia tăng và khả năng thích ứng thị trường của các cơ sở chăn nuôi.

Các khái niệm chuyên ngành cốt lõi được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm: động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP; cơ sở nuôi sinh sản và sinh trưởng theo quy định Công ước CITES; tổng giá trị sản xuất (GO); giá trị gia tăng (VA); và chỉ số thu nhập hỗn hợp (MI).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp từ Chi cục Kiểm lâm tỉnh Ninh Bình, cơ quan CITES và dữ liệu sơ cấp thu thập qua điều tra thực địa. Cỡ mẫu khảo sát chuyên sâu gồm 50 hộ nhân nuôi đại diện tại các địa bàn trọng điểm như huyện Nho Quan, huyện Yên Mô, huyện Kim Sơn và thành phố Tam Điệp, kết hợp phỏng vấn sâu lãnh đạo các Hạt Kiểm lâm địa phương.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng theo loài được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cho các nhóm loài chủ lực như thú móng guốc, bò sát và thú ăn thịt nhỏ. Phương pháp thống kê kinh tế và hạch toán chi phí được lựa chọn nhằm bóc tách chính xác các khoản mục chi phí đầu vào, chi phí trung gian (IC), khấu hao chuồng trại và giá thành sản phẩm. Ma trận SWOT được ứng dụng để tổng hợp toàn diện các cơ hội, thách thức, điểm mạnh và rào cản kỹ thuật của ngành trong giai đoạn chuyển giao công nghệ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả điều tra xác lập bức tranh tổng thể về cơ cấu đàn và phân bố địa lý của hoạt động nhân nuôi động vật hoang dã tại Ninh Bình:

Thứ nhất, cơ cấu đàn thương mại tập trung chủ yếu vào 5 nhóm loài chính, chiếm tới 7.547 cá thể, tương đương 96,0% tổng đàn toàn tỉnh. Rắn hổ mang chiếm ưu thế tuyệt đối về số lượng cá thể với 4.133 con (chiếm 52,5% tổng đàn) tại 15 cơ sở, đạt mật độ trung bình 275,5 con/hộ. Tiếp theo là Rắn ráo trâu với 1.656 cá thể tại 11 hộ (chiếm 7,2% số hộ), trung bình 150,5 con/hộ. Hươu sao là đối tượng có số lượng hộ nuôi lớn nhất với 56 hộ (chiếm 36,6% tổng số hộ) và 909 cá thể, trung bình 16,2 con/hộ. Nhím đứng vị trí thứ hai về quy mô hộ với 41 cơ sở (chiếm 26,8% tổng số hộ) và 724 cá thể. Cầy vòi hương ghi nhận 8 hộ nuôi với 125 cá thể.

Thứ hai, phân bố không gian thể hiện sự chênh lệch rõ nét giữa các tiểu vùng sinh thái. Huyện Nho Quan dẫn đầu toàn tỉnh khi tập trung 74 hộ nuôi, chiếm 48,4% tổng số cơ sở thương mại. Thành phố Tam Điệp và huyện Gia Viễn cùng xếp vị trí thứ hai với 23 hộ cho mỗi đơn vị, cùng chiếm tỷ lệ 15,0%. Các địa phương còn lại chiếm tỷ trọng thấp: huyện Yên Khánh có 11 hộ (7,2%), huyện Kim Sơn có 9 hộ (5,9%), huyện Hoa Lư có 6 hộ (3,9%), huyện Yên Mô có 5 hộ (3,3%) và thành phố Ninh Bình chỉ có 2 hộ (1,3%).

Thứ ba, công tác bảo tồn nguồn gen đạt nhiều dấu ấn quan trọng tại Trung tâm Cứu hộ, Bảo tồn và Phát triển Sinh vật thuộc Vườn quốc gia Cúc Phương và Trạm bảo tồn gấu Ninh Bình với 1.634 cá thể thuộc 57 loài quý hiếm. Trong đó, nhiều loài nguy cấp đạt số lượng lớn như Rùa trung bộ với 250 cá thể, Rùa hộp trán vàng miền Trung với 189 cá thể, Rùa đầu to với 178 cá thể, Vọoc mông trắng với 18 cá thể và Chà vá chân xám với 38 cá thể.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu khảo sát phản ánh sự phát triển mất cân đối giữa các vùng sinh thái do sự khác biệt về quỹ đất đồi rừng và nguồn thức ăn tự nhiên. Các số liệu phân bố cơ cấu loài và phân vùng địa bàn có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ tròn thể hiện tỷ trọng đàn vật nuôi và bản đồ phân bố không gian GIS cấp huyện.

Nguyên nhân dẫn đến sự chênh lệch này xuất phát từ việc Nho Quan và Tam Điệp có điều kiện tự nhiên đồi núi thuận lợi, nguồn nhân lực nông nhàn chiếm khoảng 25% và tiếp cận kỹ thuật thuần dưỡng sớm hơn. Tuy nhiên, phần lớn các hộ vẫn nuôi theo kinh nghiệm tự phát, thiếu quy chuẩn an toàn sinh học.

Về mặt pháp lý, khó khăn lớn nhất hiện nay là việc chứng minh nguồn gốc con giống hợp pháp theo Công văn 515/KL-VPCITES đối với các đàn hình thành trước khi có văn bản quy định, đặc biệt là các trại nuôi Hươu sao và Rắn hổ mang lâu năm. So với các trung tâm nhân nuôi lớn tại Vĩnh Phúc hay Đồng Nai, Ninh Bình có tiềm năng lớn về du lịch sinh thái kết hợp nông nghiệp nhưng chưa tận dụng được chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm, khiến giá bán biến động mạnh và tiềm ẩn rủi ro thị trường.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm chuẩn hóa và nâng cao giá trị ngành chăn nuôi động vật hoang dã tỉnh Ninh Bình đến năm 2025, bốn nhóm giải pháp đồng bộ được đề xuất:

  1. Chuẩn hóa quy trình cấp phép và quản lý nguồn gốc: Chi cục Kiểm lâm tỉnh Ninh Bình cần phối hợp với chính quyền cấp xã tiến hành kiểm kê, gắn mã định danh hoặc gắn chip điện tử cho 100% cá thể động vật hoang dã nguy cấp quý hiếm. Cơ quan chức năng cần thiết lập cơ chế đặc thù tháo gỡ vướng mắc xác nhận nguồn gốc con giống lịch sử, phấn đấu đạt tỷ lệ 100% cơ sở đủ điều kiện được cấp mã số trại nuôi hợp pháp trong giai đoạn 2019 - 2021.

  2. Quy hoạch vùng chăn nuôi tập trung gắn với an toàn sinh học: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần xây dựng đề án quy hoạch phân vùng chăn nuôi tại các huyện có lợi thế như Nho Quan, Gia Viễn và Tam Điệp, kiểm soát chặt chẽ mật độ chuồng trại cách ly khu dân cư tối thiểu 200m để phòng ngừa dịch bệnh lây truyền từ động vật sang người.

  3. Chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và đào tạo nghề: Trung tâm Khuyến nông kết hợp với các viện nghiên cứu lâm nghiệp tổ chức tối thiểu 15 lớp tập huấn kỹ thuật sinh sản nhân tạo, chế độ dinh dưỡng và phòng trừ dịch bệnh cho trên 80% chủ hộ chăn nuôi trước năm 2023, ưu tiên các loài có giá trị thương phẩm cao như Cầy vòi hương, Hươu sao và Rắn ráo trâu.

  4. Xây dựng chuỗi liên kết thị trường và truy xuất nguồn gốc: Hiệp hội chăn nuôi địa phương cần thành lập các tổ hợp tác kết nối cơ sở nuôi với các doanh nghiệp chế biến dược liệu, du lịch sinh thái Tràng An - Bái Đính và các kênh phân phối chính ngạch, giảm thiểu sự phụ thuộc vào thương lái trung gian.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị học thuật và thực tiễn sâu sắc cho bốn nhóm đối tượng:

  1. Cán bộ quản lý Nhà nước và lực lượng Kiểm lâm: Cung cấp bức tranh toàn cảnh về 153 cơ sở nhân nuôi và 8 địa bàn hành chính, hỗ trợ xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa, quy trình cấp phép và thanh tra giám sát lâm sản theo đúng quy định Công ước CITES.

  2. Chủ trang trại và các hộ nông hộ chăn nuôi: Tiếp cận dữ liệu định mức kinh tế kỹ thuật của 13 loài thương mại, hiểu rõ yêu cầu pháp lý về nguồn gốc giống, từ đó tối ưu hóa chi phí đầu tư chuồng trại và giảm thiểu rủi ro pháp lý.

  3. Nhà khoa học, giảng viên và sinh viên ngành Quản lý Tài nguyên Rừng: Tài liệu tham khảo hữu ích về phương pháp nghiên cứu định lượng, khung lý thuyết bảo tồn kết hợp kinh tế sinh thái và bộ dữ liệu bảo tồn 57 loài cứu hộ tại Vườn quốc gia Cúc Phương.

  4. Các tổ chức bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển sinh kế: Sử dụng kết quả nghiên cứu làm căn cứ thiết kế các dự án phát triển sinh kế thay thế vùng đệm rừng đặc dụng, dung hòa giữa mục tiêu giảm nghèo và bảo vệ thiên nhiên.

Câu hỏi thường gặp

Hoạt động nhân nuôi động vật hoang dã tại Ninh Bình tập trung chủ yếu ở những loài nào?
Toàn tỉnh ghi nhận 13 loài nhân nuôi thương mại với 7.865 cá thể. Trong đó, 5 loài chủ lực chiếm 96,0% tổng đàn gồm Rắn hổ mang (4.133 con), Rắn ráo trâu (1.656 con), Hươu sao (909 con), Nhím (724 con) và Cầy vòi hương (125 con).

Địa phương nào tại Ninh Bình có quy mô nhân nuôi động vật hoang dã lớn nhất?
Huyện Nho Quan là trung tâm lớn nhất toàn tỉnh với 74 hộ chăn nuôi, chiếm tỷ lệ 48,4%. Nơi đây vừa dẫn đầu về nhân nuôi thương mại, vừa là trung tâm bảo tồn 57 loài cứu hộ tại Vườn quốc gia Cúc Phương.

Khó khăn lớn nhất về mặt pháp lý mà các hộ chăn nuôi đang gặp phải là gì?
Vướng mắc lớn nhất là việc chứng minh nguồn gốc con giống F1, F2 theo Công văn 515/KL-VPCITES đối với các đàn nuôi truyền thống lâu năm như Hươu sao và Rắn hổ mang hình thành trước khi có quy định đăng ký trại nuôi.

Chăn nuôi động vật hoang dã đóng góp như thế nào cho kinh tế - xã hội địa phương?
Nghề nuôi giúp chuyển dịch cơ cấu vật nuôi hiệu quả, tận dụng 25% tỷ lệ lao động nông nhàn tại khu vực nông thôn và mang lại giá trị gia tăng trên một đơn vị diện tích cao hơn nhiều so với chăn nuôi gia súc truyền thống.

Làm thế nào để phân biệt giữa sản phẩm chăn nuôi hợp pháp và sản phẩm săn bắt tự nhiên?
Sản phẩm hợp pháp bắt buộc phải xuất phát từ cơ sở được Chi cục Kiểm lâm cấp mã số trại nuôi, có sổ theo dõi tăng giảm đàn và giấy phép vận chuyển lâm sản theo đúng Nghị định 32/2006/NĐ-CP và Nghị định 82/2006/NĐ-CP.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện hiện trạng ngành nuôi động vật hoang dã tỉnh Ninh Bình với quy mô 153 cơ sở thương mại (7.865 cá thể, 13 loài) và hệ thống bảo tồn 57 loài (1.634 cá thể).
  • Nghiên cứu chỉ rõ sự mất cân đối vùng khi huyện Nho Quan chiếm tới 48,4% số hộ và nhóm 5 loài chủ lực chiếm 96,0% tổng số cá thể toàn tỉnh.
  • Công trình đã nhận diện chính xác các nút thắt về cơ chế chứng minh nguồn gốc giống, thiếu hụt quy trình kỹ thuật chuẩn và biến động thị trường tiêu thụ.
  • Hệ sinh thái 4 nhóm giải pháp được đề xuất tạo tiền đề cho việc xây dựng quy hoạch tổng thể ngành lâm nghiệp và chăn nuôi của địa phương giai đoạn 2020 - 2025.
  • Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học thực chứng hỗ trợ đắc lực cho công tác quản trị tài nguyên rừng và phát triển kinh tế sinh thái bền vững.

Quý độc giả, nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý quan tâm có thể khai thác chi tiết các mô hình hạch toán kinh tế và danh mục loài trong toàn văn luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Tài nguyên Rừng để áp dụng vào thực tiễn quản lý và nghiên cứu chuyên sâu.