Tổng quan nghiên cứu

Công tác quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường đóng vai trò đòn bẩy tài chính cốt lõi nhằm kiểm soát ô nhiễm, phục hồi hệ sinh thái và bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững tại các trung tâm kinh tế trọng điểm. Năm 2017, tổng ngân sách sự nghiệp môi trường toàn quốc đạt 13.880 tỷ đồng, trong đó nguồn phân bổ cho các địa phương chiếm 12.000 tỷ đồng. Mặc dù Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và Quyết định số 46/2016/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã quy định mức chi thường xuyên cho sự nghiệp môi trường không được thấp hơn 1% tổng chi ngân sách nhà nước, việc sử dụng nguồn lực này tại nhiều địa bàn cấp tỉnh vẫn bộc lộ sự dàn trải, thiếu tập trung và chưa tương xứng với tốc độ tăng trưởng kinh tế.

Tỉnh Quảng Ninh là hạt nhân phát triển thuộc Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ với tốc độ tăng trưởng GRDP năm 2019 đạt 11,81% và thu nhập bình quân đầu người đạt 6.135 USD/năm. Song hành cùng áp lực công nghiệp hóa và hoạt động khai thác than chiếm trên 90% sản lượng cả nước, Quảng Ninh đối mặt với 6 vấn đề môi trường bức xúc kéo dài. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường của tác giả Hoàng Thị Sen (Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên, năm 2020) tập trung nghiên cứu thực trạng phân bổ, chấp hành và quyết toán kinh phí sự nghiệp môi trường tại tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2017-2019.

Mục tiêu chính của đề tài là đánh giá toàn diện bức tranh quản trị tài chính môi trường, chỉ rõ những điểm nghẽn trong cơ chế điều tiết ngân sách và đề xuất 7 nhóm giải pháp mang tính chiến lược. Nghiên cứu cung cấp hệ thống luận cứ khoa học và bộ cơ sở dữ liệu thực chứng giá trị, hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách tối ưu hóa hiệu quả sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, hướng tới mục tiêu chuyển đổi xanh nền kinh tế địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết tài chính công và lý thuyết quản lý môi trường hiện đại. Quản lý môi trường được hiểu là hệ thống tổng hòa các biện pháp luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật và xã hội nhằm duy trì chất lượng môi trường sống. Trong nền kinh tế thị trường, các công cụ kinh tế như thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường, tiền ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường và quỹ môi trường đóng vai trò định hướng hành vi xả thải theo nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền" quy định tại Khoản 8 Điều 4 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.

Luận văn vận dụng khung pháp lý chuẩn hóa từ Luật Ngân sách nhà nước, Nghị định số 163/2016/NĐ-CP, Thông tư số 342/2016/TT-BTC, Quyết định số 46/2016/QĐ-TTg (sau này là Quyết định số 88/2019/QĐ-TTg) và Thông tư số 02/2017/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường. Khung phân tích tập trung vào 4 khái niệm trụ cột:

  • Quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường: Hoạt động thực thi quyền lực công nhằm điều hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo tồn thiên nhiên.
  • Kinh phí sự nghiệp môi trường: Nguồn vốn chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước dành cho 18 nhóm nhiệm vụ chi của địa phương và 15 nhóm nhiệm vụ chi của trung ương.
  • Phân cấp quản lý ngân sách: Cơ chế ủy quyền, giao nhiệm vụ và thẩm quyền tài chính giữa cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã.
  • Hiệu quả sử dụng tài chính công: Mức độ hoàn thành các chỉ tiêu môi trường mục tiêu tương quan với tổng nguồn kinh phí giải ngân.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng hệ phương pháp đa ngành kết hợp định tính và định lượng để xử lý dữ liệu giai đoạn 2017-2019:

  • Phương pháp thu thập và thống kê số liệu: Tác giả tổng hợp dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo quyết toán tài chính, báo cáo hiện trạng môi trường của Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Ninh, cùng báo cáo hoạt động của Quỹ Bảo vệ môi trường và Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin).
  • Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích (Cost-Benefit Analysis - CBA): Ứng dụng nhằm đánh giá mức độ đóng góp tài chính và trách nhiệm bồi hoàn của khối doanh nghiệp khai khoáng đối với chi phí xử lý ô nhiễm xã hội.
  • Phương pháp điều tra khảo sát và tham vấn chuyên gia: Tác giả thực hiện khảo sát chuyên sâu và phỏng vấn trực tiếp 02 cán bộ chuyên trách quản lý nguồn vốn sự nghiệp môi trường tại Sở Tài nguyên và Môi trường và Sở Tài chính tỉnh Quảng Ninh trong các ngày 22 và 23/4/2020.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) được lựa chọn nhằm tiếp cận trực tiếp các chuyên gia đầu ngành nắm giữ dữ liệu nghiệp vụ chuẩn xác, giúp giải trình tường tận các vướng mắc cơ chế. Toàn bộ chuỗi số liệu được mô hình hóa và phân tích xu hướng biến thiên thông qua phần mềm Microsoft Excel.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số liệu thực tế giai đoạn 2017-2019 mang lại 4 phát hiện quan trọng:

  1. Quy mô và tính ổn định của nguồn chi ngân sách: Tỉnh Quảng Ninh đã duy trì tỷ lệ chi thường xuyên cho sự nghiệp môi trường đạt ngưỡng quy định tối thiểu của Trung ương (trên 1% tổng chi ngân sách nhà nước địa phương). Cụ thể, mức chi năm 2017 đạt 658,386 tỷ đồng; năm 2018 đạt 650,612 tỷ đồng và năm 2019 đạt 689,026 tỷ đồng. Tuy nhiên, mức độ tăng trưởng ngân sách chi sự nghiệp môi trường chưa bám sát tốc độ tăng trưởng kinh tế GRDP (11,81%) và tốc độ gia tăng nguồn thu nội địa của tỉnh (đạt 34.625 tỷ đồng năm 2019).

  2. Sự chênh lệch lớn trong phân bổ không gian địa lý: Cơ cấu giải ngân kinh phí sự nghiệp môi trường cấp huyện thể hiện sự tập trung cao độ vào các đô thị phát triển công nghiệp và dịch vụ trọng điểm. Tổng kinh phí phân bổ cho 14 địa phương giai đoạn 2017-2019 là 1.869,964 tỷ đồng, trong đó thành phố Hạ Long đứng đầu với 544,075 tỷ đồng (chiếm 29,09%), tiếp theo là thành phố Cẩm Phả với 396,019 tỷ đồng (chiếm 21,17%) và thành phố Uông Bí với 228,220 tỷ đồng (chiếm 12,20%). Ngược lại, các địa bàn hải đảo và miền núi tiếp nhận tỷ trọng rất khiêm tốn, như huyện Cô Tô chỉ nhận 7,525 tỷ đồng (chiếm 0,40%) và huyện Ba Chẽ đạt 15,610 tỷ đồng (chiếm 0,83%).

  3. Cơ chế hòa nhập nguồn thu bổ sung còn nhiều bất cập: Các nguồn thu kinh tế môi trường chưa được tái đầu tư trực tiếp vào nguồn chi sự nghiệp môi trường. Trong 3 năm, số phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp nộp vào ngân sách địa phương đạt hơn 7 tỷ đồng (tổng thu toàn tỉnh hơn 27 tỷ đồng), phí thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường nộp ngân sách đạt hơn 400 triệu đồng (tổng thu 887 triệu đồng) và số tiền ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường từ 77 đơn vị khoáng sản đạt hơn 456 tỷ đồng trên 340 dự án. Toàn bộ các khoản thu này bị hòa vào ngân sách chung của địa phương để điều hòa, không hình thành nguồn lực chuyên biệt bổ trợ cho sự nghiệp môi trường.

  4. Nghịch lý trong kết quả thực hiện các chỉ tiêu môi trường: Tỉnh đã hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu cứng như 100% chất thải y tế nguy hại được xử lý, tỷ lệ che phủ rừng đạt trên 51% và 100% khu công nghiệp vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung. Dẫu vậy, các chỉ tiêu liên quan trực tiếp đến đời sống dân sinh vẫn đạt thấp do thiếu kinh phí đầu tư, điển hình là tỷ lệ địa phương có khu xử lý chất thải rắn hợp vệ sinh chỉ đạt 29%, tỷ lệ cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải đạt 67% và tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt đô thị đạt 94,5%.

+-------------------------------------------------------------------------+
|                  CƠ CẤU PHÂN BỔ KINH PHÍ SNMT 2017-2019                 |
|  - Hạ Long:   29,09% (544,075 tỷ đồng)                                  |
|  - Cẩm Phả:   21,17% (396,019 tỷ đồng)                                  |
|  - Uông Bí:   12,20% (228,220 tỷ đồng)                                  |
|  - Đông Triều:11,29% (211,070 tỷ đồng)                                  |
|  - Quảng Yên:  8,61% (161,000 tỷ đồng)                                  |
|  - 9 huyện thị còn lại: 17,64% (Tổng cộng 329,580 tỷ đồng)              |
+-------------------------------------------------------------------------+

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân bổ ngân sách môi trường tại Quảng Ninh phản ánh rõ đặc thù của một tỉnh công nghiệp khai khoáng và dịch vụ biển. Việc tập trung trên 62,46% tổng nguồn vốn cho 3 đô thị Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí xuất phát từ áp lực xử lý rác thải sinh hoạt, bụi than và bảo vệ vịnh di sản. Tuy nhiên, việc thiếu vốn đầu tư đối ứng tại các huyện miền núi như Ba Chẽ, Bình Liêu làm gia tăng nguy cơ suy thoái tài nguyên rừng và ô nhiễm nguồn nước mặt liên huyện.

Khi đặt trong tương quan quốc gia, Quảng Ninh đã làm tốt hơn nhóm 13 tỉnh thành bị Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội phê bình năm 2019 vì dự toán chi sự nghiệp môi trường thấp hơn mức sàn 1%. Dù vậy, mức chi của tỉnh vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết số 236/2015/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh. Nguyên nhân cốt lõi là nguồn vốn ngoài ngân sách chưa được khơi thông; Quỹ Bảo vệ môi trường và Phát triển đất tỉnh Quảng Ninh với vốn điều lệ ban đầu 20 tỷ đồng mới chỉ giải ngân cho vay được 3 dự án với tổng mức 15 tỷ đồng. Dữ liệu tài chính cho thấy nếu biểu diễn cơ cấu nguồn lực bảo vệ môi trường qua biểu đồ cột chồng (stacked bar chart), nguồn tài chính từ Quỹ môi trường ngành than của Vinacomin (đạt 5.106,76 tỷ đồng) và nguồn thu phí khai khoáng (đạt 1.849 tỷ đồng) chiếm tỷ trọng áp đảo so với nguồn vốn sự nghiệp môi trường thuần túy.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện công tác quản lý và tối ưu hóa nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Nâng tỷ lệ chi ngân sách sự nghiệp môi trường lên 1,2% - 1,5%: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh cần phê duyệt lộ trình tăng tỷ lệ chi thường xuyên cho sự nghiệp môi trường vượt ngưỡng tối thiểu 1% hiện tại, phấn đấu đạt 1,5% tổng chi ngân sách địa phương trong giai đoạn 2021-2025. Nguồn lực bổ sung này dùng để tài trợ cho các đề án xử lý nước thải sinh hoạt đô thị và hoàn thiện chỉ tiêu bãi rác hợp vệ sinh cấp huyện lên mức 100%.

  2. Chuẩn hóa quy trình phân bổ kinh phí theo tiêu chí kỹ thuật: Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì phối hợp cùng Sở Tài chính xây dựng bộ chỉ số phân bổ vốn dựa trên tải lượng ô nhiễm thực tế và mật độ dân số đô thị theo quy định tại Thông tư 02/2017/TT-BTC, hoàn thành áp dụng trước quý II/2021. Quy trình mới cần tách bạch rõ ràng giữa nhiệm vụ chi sự nghiệp môi trường định kỳ với các dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị.

  3. Cơ chế tái đầu tư nguồn thu phí và huy động vốn xã hội hóa: Ủy ban nhân dân tỉnh cần ban hành quy định trích lập tối thiểu 50% số thu từ phí nước thải công nghiệp (hiện đạt trên 7 tỷ đồng/3 năm) và phí bảo vệ môi trường khai thác khoáng sản (đạt 620 tỷ đồng năm 2019) chuyển thẳng vào Quỹ Bảo vệ môi trường tỉnh, thời gian thực hiện từ năm 2021. Quỹ cần mở rộng quy mô tín dụng xanh, nâng mức dư nợ hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ sạch từ 15 tỷ đồng lên 100 tỷ đồng.

  4. Nâng cao năng lực chuyên môn cho cán bộ quản lý cấp huyện: Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức các khóa đào tạo định kỳ hằng năm trong giai đoạn 2021-2023 cho 100% cán bộ phụ trách kế hoạch tài chính môi trường tại 14 huyện, thị xã, thành phố. Nội dung tập trung vào kỹ năng lập dự toán theo phân cấp ngân sách, kiểm toán chi phí và giám sát hiệu quả dự án sau quyết toán.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh và huyện: Lãnh đạo và chuyên viên thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài chính, Chi cục Bảo vệ Môi trường và Ủy ban nhân dân các địa phương tại Quảng Ninh sử dụng luận văn làm cẩm nang thực tiễn trong việc xây dựng dự toán, phân bổ kinh phí hằng năm và hoạch định chính sách điều tiết phí môi trường.
  • Học viên, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành môi trường: Cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh, phương pháp đánh giá định lượng chi phí - lợi ích và nguồn số liệu gốc đáng tin cậy về kinh tế tài chính môi trường tại một địa bàn đặc thù, phục vụ công tác giảng dạy và thực hiện các công trình khoa học tiếp theo.
  • Tập đoàn, doanh nghiệp khai khoáng và công nghiệp: Ban lãnh đạo Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin), các chủ đầu tư khu công nghiệp tham khảo để nắm bắt xu hướng điều chỉnh chính sách phí xả thải, từ đó xây dựng kế hoạch ký quỹ phục hồi môi trường (với quy mô hơn 456 tỷ đồng toàn tỉnh) đạt chuẩn pháp lý.
  • Tổ chức phi chính phủ và đơn vị tư vấn phát triển bền vững: Các tổ chức tài trợ ODA, tổ chức quốc tế nghiên cứu số liệu để đánh giá nhu cầu vốn đối ứng (như khoản 0,746 tỷ đồng năm 2018), xây dựng các dự án tài chính xanh và bảo tồn đa dạng sinh học vịnh Hạ Long.

Câu hỏi thường gặp

Kinh phí sự nghiệp môi trường tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2017-2019 có đạt mức tối thiểu 1% tổng chi ngân sách không?
Có. Tỉnh Quảng Ninh đã tuân thủ đúng quy định tại Quyết định số 46/2016/QĐ-TTg khi phân bổ nguồn chi sự nghiệp môi trường đạt từ 650,612 tỷ đồng đến 689,026 tỷ đồng mỗi năm, chiếm trên 1% tổng chi ngân sách địa phương. Mặc dù vậy, mức chi này vẫn chưa đạt mục tiêu đề ra tại Nghị quyết số 236/2015/NQ-HĐND của tỉnh.

Địa phương nào tại Quảng Ninh tiếp nhận tỷ trọng kinh phí sự nghiệp môi trường cao nhất?
Thành phố Hạ Long đứng đầu toàn tỉnh khi được phân bổ 544,075 tỷ đồng trong giai đoạn 2017-2019, chiếm 29,09% tổng kinh phí cấp huyện. Nguyên nhân xuất phát từ áp lực xử lý rác thải đô thị loại I, mật độ dân cư đông đúc và các nhiệm vụ cấp bách bảo tồn cảnh quan Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long.

Các khoản thu phí và tiền ký quỹ môi trường có được bổ sung trực tiếp vào kinh phí sự nghiệp môi trường không?
Không. Toàn bộ các nguồn thu như phí nước thải công nghiệp (hơn 7 tỷ đồng nộp ngân sách), phí thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường (hơn 400 triệu đồng) và 456 tỷ đồng tiền ký quỹ khoáng sản đều nộp về Kho bạc Nhà nước hoặc điều hòa trong ngân sách chung của tỉnh, không được khấu trừ trực tiếp cho quỹ chi thường xuyên sự nghiệp môi trường.

Những chỉ tiêu môi trường nào tại Quảng Ninh chưa hoàn thành trong giai đoạn 2017-2019 do thiếu kinh phí?
Có 5 chỉ tiêu chưa đạt mục tiêu gồm: tỷ lệ địa phương có khu xử lý chất thải rắn hợp vệ sinh (chỉ đạt 29%), tỷ lệ cụm công nghiệp có trạm xử lý nước thải tập trung (đạt 67%), tỷ lệ thu gom rác sinh hoạt đô thị (đạt 94,5%), tỷ lệ dân thành thị dùng nước sạch (96%) và dân nông thôn dùng nước hợp vệ sinh (98%).

Quỹ Bảo vệ môi trường và Phát triển đất tỉnh Quảng Ninh hoạt động như thế nào trong giai đoạn nghiên cứu?
Được cấp vốn điều lệ 20 tỷ đồng, Quỹ là tổ chức tài chính trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường. Giai đoạn 2017-2019, Quỹ đã tổ chức thẩm định và cho vay 15 tỷ đồng đối với 3 dự án bảo vệ môi trường, đồng thời tiếp nhận hơn 456 tỷ đồng tiền ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường cho 340 dự án khai thác khoáng sản.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích có hệ thống bức tranh quản lý tài chính sự nghiệp môi trường tại Quảng Ninh giai đoạn 2017-2019 với tổng nguồn chi duy trì từ 650,612 đến 689,026 tỷ đồng mỗi năm.
  • Công tác phân bổ kinh phí phản ánh đúng áp lực điểm nóng ô nhiễm khi dành hơn 50% ngân sách cấp huyện cho hai đô thị trọng điểm Hạ Long và Cẩm Phả.
  • Đề tài chỉ rõ hạn chế trong việc thiếu cơ chế tái đầu tư nguồn thu phí bảo vệ môi trường và giải ngân vốn Quỹ Bảo vệ môi trường còn ở mức khiêm tốn (15 tỷ đồng).
  • Đưa ra 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao nhằm nâng tỷ lệ chi ngân sách lên 1,5%, gắn định mức kỹ thuật vào dự toán và chuẩn hóa năng lực cán bộ chuyên trách giai đoạn 2021-2025.
  • Cung cấp cơ sở lý luận và thực chứng vững chắc, đóng vai trò tài liệu tham khảo thiết yếu cho các cơ quan quản trị tài nguyên, nhà nghiên cứu kinh tế môi trường và doanh nghiệp công nghiệp.

Quý độc giả, các nhà quản lý và học viên có thể tiếp cận trọn vẹn luận văn để áp dụng bộ công cụ phân tích tài chính môi trường thực nghiệm vào quá trình xây dựng chính sách phát triển bền vững tại địa phương.