Chương 1: Khái quát về huyện Chợ Đồn và giáo dục THPT huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn trước năm 1997. Chương 2: Tình hình giáo dục THPT huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 1997 – 2013. Chương 3: Một số nhận xét về giáo dục THPT huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn (1997 – 2013) 9 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN CHỢ ĐỒN VÀ GIÁO DỤC THPT HUYỆN CHỢ ĐỒN TỈNH BẮC KẠN TRƢỚC NĂM 1997 1. Vài nét về huyện Chợ Đồn 1.
Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên Chợ Đồn là một huyện miền núi cao nằm ở phía Tây của tỉnh Bắc Kạn, có 1 thị trấn (Bằng Lũng) và 21 xã. Chợ Đồn có ranh giới tiếp giáp: phía Bắc giáp huyện Ba Bể; phía Nam giáp huyện Định Hóa của tỉnh Thái Nguyên; phía Đông giáp huyện Bạch Thông, huyện Chợ Mới; phía Tây giáp các huyện Chiêm Hóa, Yên Sơn và Na Hang của tỉnh Tuyên Quang. Theo sử cũ, từ đời nhà Trần trở về trước, địa phận huyện Chợ Đồn ngày nay là một phần đất của huyện Vĩnh Thông, thuộc phủ Thái Nguyên; thời thuộc Minh (1407 - 1427) vẫn theo như thế. Đến thời nhà Lê, huyện Vĩnh Thông được đổi tên thành châu Bạch Thông, thuộc phủ Thông Hóa, do phiên thần họ Hoàng nối đời cai trị.
Từ đó trở đi, Chợ Đồn vẫn thuộc châu Bạch Thông. Năm 1884, sau khi chiếm được thành Thái Nguyên, thực dân Pháp bắt đầu mở rộng cuộc xâm lược lên các huyện phía Bắc nước ta. Vấp phải sự phản kháng quyết liệt của nhân dân các dân tộc cho nên sau 10 năm, thực dân Pháp mới đến được phủ lỵ Thông Hóa. Đến năm 1895, một đạo quân Pháp tiến lên vùng thượng lưu sông Cầu, đánh chiếm các vùng rẻo cao của phủ Thông Hóa, trong đó có phần đất của huyện Chợ Đồn ngày nay.
Đầu năm 1900, theo nghị định của Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer, thực dân Pháp tách phủ Thông Hóa đặt thành tỉnh Bắc Kạn, gồm 4 châu (sau đổi thành huyện) là Bạch Thông, Chợ Rã, Thông Hóa (sau đổi thành Na Rì), Cảm Hóa (sau đổi thành Ngân Sơn). Năm 1911, châu Chợ Đồn được thành lập, gồm hai tổng: Đông Viên (gồm các xã hiện nay là Đông Viên, 10 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phương Viên, Rã Bản, Đại Sảo, Ngọc Phái, Bằng Lãng, Yên Thịnh, Yên Thượng, Bản Thi) và Nhu Viễn (gồm các xã hiện nay là Quảng Bạch, Tân Lập, Đồng Lạc, Nam Cường, Xuân Lạc). Đến năm 1914, chính quyền thực dân cắt tổng Nghĩa Tá (gồm các xã hiện nay là Lương Bằng, Nghĩa Tá, Bình Trung, Phong Huân, Yên Nhuận, Yên Mỹ) thuộc Thái Nguyên nhập vào châu Chợ Đồn thuộc tỉnh Bắc Kạn. Kể từ đó, châu Chợ Đồn có 3 tổng với 16 xã.
Ngày 21/4/1965, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) ra quyết định số 103-NQ-TVQH thành lập tỉnh Bắc Thái trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn. Chợ Đồn lúc này trở thành một huyện của tỉnh Bắc Thái. Đến ngày 6/11/1996, để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và nguyện vọng của nhân dân các dân tộc, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ 10 đã phê chuẩn việc chia tỉnh Bắc Thái thành hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn. Ngày 01/01/1997, tỉnh Bắc Kạn chính thức được tái lập.
Chợ Đồn lại trở thành một huyện của tỉnh Bắc Kạn từ đó đến nay. Về địa hình, Chợ Đồn là một huyện miền núi cao của tỉnh Bắc Kạn, có độ cao giảm dần từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây với ba dạng địa hình phổ biến: địa hình núi đá vôi ở phía Bắc thuộc cao nguyên đá vôi Lang-ca-phu kéo dài từ huyện Ba Bể đến thị trấn Bằng Lũng, địa hình chia cắt phức tạp bởi những dãy núi đá vôi với độ cao trên 1000m (núi Phia Khao xã Bản Thi) xen giữa các thung lũng hẹp, độ dốc bình quân từ 250 đến 300, đây là nơi đầu nguồn của các sông chảy về hồ Ba Bể; địa hình núi đất ở phía Nam thị trấn Bằng Lũng, có độ cao phổ biến 400m đến trên 600m, độ dốc bình quân từ 20 0 đến 250, địa hình chia cắt mạnh bởi hệ thống sông suối khá dày đặc; địa hình thung lũng phân bố dọc theo các sông, suối xen giữa các dãy núi cao. Các điều kiện tự nhiên nhìn chung khá thuận lợi cho phát triển canh tác nông - lâm nghiệp kết hợp, cây ăn quả, cây đặc sản. 11 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com g đặc trưng chung của khí hậu miền Bắc Việt Nam, chia thành bốn mùa (xuân, hạ, thu, đông) trong năm nhưng có hai mùa nóng và lạnh rõ rệt.
Đặc biệt, Chợ Đồn là vùng núi cao nên mùa đông thường kéo dài (bắt đầu từ tháng 10 và kết thúc vào tháng 4 năm sau), giá lạnh, nhiệt độ không khí thấp, khô hanh, có sương muối. Mùa hè kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, nóng ẩm, mưa nhiều. Nhiệt độ trung bình năm là 23,2 oC. Ngoài ra, khí hậu Chợ Đồn còn có đặc trưng khác như sương mù, nhất là vào các tháng 10, 11 số ngày sương mù thường cao.
Vào khoảng tháng 12 và tháng 1, các xã vùng núi đá vôi còn xuất hiện sương muối. Mùa đông lạnh, kéo dài lại kèm theo sương mù, sương muối đã gây khó khăn không nhỏ cho đời sống sinh hoạt và sản xuất của con người nơi đây. Lượng mưa thuộc loại thấp, bình quân 1. Các tháng có lượng mưa lớn là tháng 6 và 7 có ngày mưa tới 340mm/ngày; thấp nhất là vào tháng 12 và tháng 1 năm sau 1,5mm/ngày.
Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và chiếm tới 75-80% lượng mưa cả năm. Độ ẩm không khí trung bình 82%, thấp nhất vào tháng 2 với 79% và cao nhất vào tháng 7 tới 88%. Chế độ gió thịnh hành là gió mùa Đông Bắc kèm theo không khí lạnh và gió mùa Đông Nam mang theo hơi nước từ biển Đông, tạo ra những trận mưa lớn vào mùa hè. Những đặc điểm về khí hậu nêu trên rất thích hợp cho các loại cây trồng nhiệt đới và á nhiệt đới, là điều kiện để đa dạng hóa cây trồng, tăng vụ cho ngành kinh tế nông – lâm nghiệp của huyện Chợ Đồn.
Chợ Đồn có hệ thống sông suối khá dày đặc, trong đó có ba nhánh thượng nguồn của các con sông là sông Cầu, sông Năng, sông Phó Đáy (còn gọi là sông Bình Trung). Đặc điểm chung của hệ thống sông suối nơi đây là đầu nguồn, lòng sông ngắn, dốc, thuỷ chế thất thường. Giao thông đường sông ít phát triển do sông suối dốc, lắm thác ghềnh. Vào mùa khô, phần lớn các dòng sông suối đều cạn; nhưng vào mùa mưa, nước dồn nhanh có thể xảy ra lũ quét ảnh hưởng xấu đến đời sống nhân dân.
12 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chợ Đồn có diện tích tự nhiên 91.115 ha (chiếm 18,75 % diện tích tự nhiên của tỉnh Bắc Kạn), trong đó diện tích đất nông nghiệp không đáng kể - 5.005,85 héc-ta (chiếm 5,49% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện), đất lâm nghiệp có 64.731,22 ha, chiếm 71,04% so với tổng diện tích tự nhiên toàn huyện. Diện tích rừng của huyện Chợ Đồn khá nhiều, độ che phủ đạt trên 57%, phân bố trên tất cả các xã, thị trấn. Tập đoàn cây rừng hiện có chủ yếu là cây gỗ tạp, tre, nứa, keo, mỡ. Rừng nguyên sinh còn ít, tập trung ở một số địa bàn khu vực hiểm trở, song lại giàu các loại gỗ quý có giá trị kinh tế cao như đinh, lim, sến, táu, nghiến, lát.
Động vật rừng cũng rất phong phú gồm nhiều loại chim, thú quý như voọc đen má trắng, lợn rừng, hươu xạ, cầy vằn bắc, hoẵng, vạc hoa. Có thể nói, rừng vừa là tài nguyên, vừa là lợi thế tuyệt đối của huyện Chợ Đồn, vì thế, khai thác hợp lý rừng sẽ không chỉ là nguồn nguyên liệu nhằm phát triển công nghiệp chế biến cho thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu mà còn là nền tảng vững chắc cho giai đoạn phát triển bền vững sau này. Không chỉ “giàu” về rừng, Chợ Đồn còn là một trong hai khu vực tập trung tài nguyên khoáng sản của tỉnh Bắc Kạn (Chợ Đồn và Ngân Sơn – Na Rì). Những khoáng sản có tiềm năng hơn cả là sắt, chì, kẽm và vật liệu xây dựng có trữ lượng lớn.
Những mỏ đã được thăm dò và có trữ lượng lớn là mỏ quặng sắt Bằng Lũng; mỏ kẽm Chợ Điền thuộc xã Bản Thi (đã được thực dân Pháp cho khai thác từ năm 1909). Bên cạnh đó, tại vùng Bản Khắt (xã Quảng Bạch), thôn Phiêng Liềng (xã Ngọc Phái), bản Nà Lược còn có một khối lượng lớn đá vôi là nguồn nguyên liệu lớn để sản xuất vật liệu xây dựng. Nguồn khoáng sản với trữ lượng lớn là lợi thế để Chợ Đồn có thể phát triển các ngành công nghiệp khai khoáng, công nghiệp vật liệu xây dựng, từng bước tích luỹ và xây dựng các ngành công nghiệp khác sau này. Là một huyện miền núi cao, phần lớn là rừng và đồi núi, việc xây dựng và phát triển giao thông trong huyện gặp nhiều khó khăn.
Thời thuộc Pháp, Chợ Đồn mới chỉ có một đoạn đường cái dài khoảng 10 ki-lô-mét, từ xã Đông Viên 13 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đến xã Phương Viên, nối liền con đường đi từ thị xã Bắc Kạn vào tới đồn quan Châu [48;10]. Còn lại là những con đường mòn nhỏ hẹp chỉ vừa đủ cho người và ngựa đi lại, nối liền từ xã này đến xã khác. Từ sau ngày hòa bình lập lại, cùng với sự phát triển kinh tế, mạng lưới giao thông trong huyện được mở mang thêm nhiều. Hai tuyến đường nhựa lớn xuất phát từ Bằng Lũng: một tuyến đi qua Bản Cậu sang Tuyên Quang; một tuyến xuống Bình Trung, thông với huyện Định Hóa.
Từ trung tâm huyện, các con đường đất cũng được mở rộng, xe ô tô có thể đi về hầu hết các xã. Hiện nay, được sự đầu tư của trung ương và của tỉnh, các tuyến đường giao thông liên xã đều đã được rải nhựa, tuyến đường tỉnh lộ 257 đã được mở rộng và rải asphalt. Hệ thống giao thông tương đối hoàn thiện tạo thuận lợi cho huyện Chợ Đồn trong việc giao lưu thương mại và phát triển kinh tế - xã hội.