Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm về tiếp cận vốn vay a. Khái niệm về tiếp cận vốn vay Tiếp cận vốn vay là việc tiếp cận của người có nhu cầu vay vốn trong việc đáp ứng các điều kiện vay vốn của ngân hàng.
Các phương pháp tiếp cận vốn vay của hộ nông dân * Tiếp cận vốn vay theo phương pháp truyền thống Tiếp cận vốn vay được hiểu theo một nghĩa thông thường chính là cách thức, là con đường, là phương pháp chung để khách hàng đến được với nguồn vốn của ngân hàng. Với phương pháp tiếp cận truyền thống này, hộ nông dân vay vốn với mục đích đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh nông nghiệp để tạo thu nhập và thu lợi nhuận. Sau một thời hạn nhất định, người vay vốn phải hoàn trả cả vốn lẫn lãi cho các tổ chức đã cho vay và đồng thời họ giữ lại khoản lợi nhuận dôi ra sau khi đầu tư. Nếu muốn tiếp tục phát triển sản xuất, người nông dân lại bước vào một chu kỳ vay vốn tiếp theo với mục đích có thể cao hơn ban đầu.
Lý thuyết về cách tiếp cận vốn truyền thống lập luận rằng, cơ chế giá cả hay lãi suất vẫn có chức năng vốn có của thị trường vốn vay của hộ nông dân từ ngân hàng. Lãi suất thấp sẽ khuyến khích nông dân vay mượn, tích cực áp dụng kỹ thuật mới để đạt được sản lượng và thu nhập cao. Lãi suất cao sẽ ngăn cản nông dân vay mượn. Trên cơ sở lập luận đó, lý thuyết này đề xuất sự can thiệp cao của Chính phủ bằng sự duy trì chính sách lãi suất thấp và trợ cấp lãi suất cho nông dân nghèo.
Tuy nhiên, trong thực tế cơ chế giá cả hay lãi suất không hoạt động hoàn hảo nên xác định trần lãi suất đã làm chệch hướng vốn vay về phía LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 những người vay lớn và làm giảm huy động tiết kiệm cũng như quỹ cho vay. Thực tế này cho thấy lãi suất không phải là yếu tố quyết định tiếp cận vốn vay từ ngân hàng của hộ nông dân (Lê Văn Long, 2011). * Tiếp cận vốn vay theo phương pháp hạn chế tài chính Lý thuyết về cách tiếp cận hạn chế tài chính lập luận rằng thị trường tài chính không hoàn hảo, lãi suất thấp ở khu vực chính thống đã làm lệch thị trường vay vốn bị giới hạn về phía những người vay lớn hay những người có địa vị kinh tế xã hội. Những người cho vay có thể tập trung vào một số khoản cho vay lớn hơn vào những người vay nhỏ vì có thể tối thiểu hóa chi phí quản lý của họ.
Địa vị chính trị xã hội của người vay sẽ ảnh hưởng tới uy tín của họ nên những người này sẽ dễ dàng tiếp cận vốn vay hơn. Tóm lại, lập luận của lý thuyết cách tiếp cận hạn chế tài chính cho rằng quy mô khoản vay, địa vị chính trị xã hội và chi phí giao dịch có thể ảnh hưởng tới tiếp cận vốn vay ngân hàng của hộ nông dân (Lê Văn Long, 2011). * Tiếp cận vốn vay theo phương pháp kinh tế học các định chế mới Cũng như cách tiếp cận hạn chế tài chính, cách tiếp cận kinh tế học các định chế mới giả định thị trường vay vốn là không hoàn hảo. Những lý thuyết này lập luận rằng phân phối vốn vay theo cơ chế phi giá cả không chỉ là kết quả của sự can thiệp của Chính phủ mà còn là cách hành xử của người cho vay và người đi vay trong môi trường không cân xứng thông tin ở thị trường vay vốn.
Thông tin không cân xứng gắn liền với vấn đề lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Thông thường lãi suất ở thị trường chính thống thấp hơn mức cân bằng của thị trường. Khi nhu cầu vay vốn của hộ vượt cung, những người cho vay chính thống kỳ vọng thu được lợi nhuận cao hơn nhờ gia tăng lãi suất. Tuy nhiên, vì thông tin không cân xứng, lãi suất cao hơn sẽ dẫn đến sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro về đạo đức.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Trước vấn đề lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức, những người cho vay có thể phân phối vốn vay theo cơ chế phi lãi suất. Trước khi chấp thuận một đề nghị vay, họ thường đánh giá tính rủi ro của người cho vay đối với người vay dựa vào những đặc tính có thể quan sát được như diện tích đất, tình trạng nhà cửa, nghề nghiệp của chính chủ hộ, trình độ văn hóa và danh tiếng của chủ hộ. Trên cơ sở những thông tin này, người cho vay sẽ quyết định kỳ hạn và điều kiện trong hợp đồng cho vay. Những đặc tính có thể quan sát được kể trên sẽ ảnh hưởng đến tiếp cận vốn vay của các hộ nông dân vì các tổ chức ngân hàng thường muốn cho vay những người có đủ thông tin đáng tin cậy và đảm bảo họ sẽ sử dụng vốn có hiệu quả để có khả năng hoàn trả nợ.
Thiếu thông tin có thể là lý do người cho vay quyết định không cho vay. Tóm lại, phương pháp này chỉ ra rằng nắm giữ đất đai, tình trạng nhà cửa, tài sản, trình độ văn hóa và nghề nghiệp chính của chủ hộ có thể ảnh hưởng tới năng lực tiếp cận vốn vay của hộ. Bên cạnh các đặc tính có thể quan sát được, tính rủi ro có thể liên quan chủ yếu tới những đặc tính không thể quan sát được của hộ như kỹ năng canh tác, sự nhạy bén với những thách thức và chất lượng của đất đai, do đó tiếp cận vốn vay của hộ cũng có thể bị ảnh hưởng bởi những đặc tính không thể quan sát được (Lê Văn Long, 2011). Các lý thuyết tiếp cận kể trên, mỗi lý thuyết nhấn mạnh các nhân tố khác nhau quyết định sự tiếp cận vốn vốn vay của các hộ nông dân, các lý thuyết sau cố gắng hoàn thiện lý thuyết trước qua phê phán những khiếm khuyết và bổ sung những nhân tố hợp lý mới.
Lý thuyết tiếp cận truyền thống cho rằng lãi suất và những đặc tính sản xuất có thể là những nhân tố quan trọng quyết định sự tiếp cận vốn vay của các hộ. Tuy nhiên, hai lý thuyết sau lý giải rằng vốn vay từ các ngân hàng có thể được phân phối theo cơ chế phi lãi suất và do đó lãi suất không phải là yếu tố quan trọng. Hai phương pháp sau chỉ ra rằng bên cạnh mục tiêu sản xuất, vốn vay có thể được sử dụng cho tiêu dùng, do đó tiếp cận vốn vay của hộ nông dân cũng có thể bị ảnh hưởng bởi tiêu dùng của hộ. Hơn nữa, qua tập LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 trung phân tích khả thi chính sách của Chính phủ, lý thuyết tiếp cận hạn chế tài chính bổ sung quy mô khoản vay, địa vị chính trị xã hội và chi phí giao dịch là nhân tố quyết định sự tiếp cận vốn vay của hộ.
Lý thuyết tiếp cận kinh tế học định chế mới chỉ ra rằng vấn đề thông tin không cân xứng ở thị trường tài chính nông thôn và cho rằng có mối quan hệ giữa tiếp cận vốn vay với những đặc tính có thể quan sát được như sở hữu đất, tình trạng sản xuất của hộ, tài sản của hộ, trình độ văn hóa và nghề nghiệp chính của chủ hộ. Lý thuyết này cũng chỉ ra rằng những đặc tính không thể quan sát được của hộ bao gồm kỹ năng canh tác, nhạy cảm với thách thức và chất lượng đất đai có thể ảnh hưởng tới tiếp cận vốn vay của các hộ. Khái niệm vay vốn ngân hàng Vay vốn ngân hàng là hình thức phát sinh giao dịch bằng tài sản giữa một bên là các ngân hàng gọi là bên cho vay và một bên là các cá thể, doanh nghiệp gọi là bên vay. Bên cho vay sẽ chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định, đồng thời bên đi vay sẽ có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay cả vốn lẫn lãi khi đến thời hạn phải thanh toán đã thoả thuận.
Tiếp cận vốn vay của các hộ nông dân 1. Sự cần thiết tăng cường tiếp cận vốn vay của hộ nông dân - Vốn vay giúp hộ nông dân mua sắm được các tư liệu phục vụ sản xuất: cây/con giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật. - Vốn vay tạo ra trang thiết bị, máy móc, tài sản cố định nâng cao năng lực sản xuất cho các nông trại, nông hộ; tạo tiền đề để nâng cao năng suất lao động, hiệu quả kinh tế, đời sống vật chất và tinh thần cho nông hộ - Giúp nông hộ có nguồn lực về vốn để đầu tư phát triển, mở rộng ngành nghề trong nông thôn, đa dạng hoá nông nghiệp. - Góp phần giải quyết dư thừa lao động nông thôn, tạo công ăn việc làm ổn định cho người lao động trong nông thôn.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 - Trong nông nghiệp - nông thôn, vốn vay phát triển kinh tế hộ nông dân góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, mang lại hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất nông nghiệp. - Góp phần nâng cao thu nhập và đời sống của hộ nông dân, thu hẹp sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị. - Thúc đẩy xây dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn, đảm bảo cho người dân có điều kiện áp dụng các kỹ thuật công nghệ cao vào sản xuất kinh doanh tiến bộ. - Gia tăng lợi nhuận cho các tổ chức tín dụng/ngân hàng.
- Góp phần xoá bỏ nạn cho vay nặng lãi ở nông nghiệp nông thôn. - Tạo công ăn việc làm cho người dân. Thông qua vốn vay, hệ thống tài chính của các tổ chức ngân hàng đã có những ảnh hưởng nhất định đến việc phát triển kinh tế hộ nông dân nói riêng và nông nghiệp nông thôn nói chung ở các mặt: (1) Các tổ chức tài chính có thể ủng hộ các quy định hiệu quả về tài sản hữu hình bằng cách thực hiện những thay đổi trong chính ngân hàng và điều chỉnh thông qua các trung gian nắm giữ tài sản đa dạng; (2) Các tổ chức tài chính có thể thực hiện các quy định trong lĩnh vực đầu tư mới có hiệu quả bằng cách làm trung gian giữa người tiết kiệm và những người phụ trách đầu tư; (3) các ngân hàng có thể kích hoạt sự tăng trưởng tỷ lệ tích luỹ vốn bằng cách ra các khuyến khích nhằm tăng cường tiết kiệm, đầu tư và kinh doanh. Đặc điểm tiếp cận vốn vay của hộ nông dân a.