CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Chính sách bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất được thực hiện dựa trên các quan điểm cơ bản như sau: (Hoàng Thị Nga, 2010) i) Vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được đặt ra dựa trên cơ sở quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo hộ; ii) Xét về bản chất Nhà nước ta là Nhà nước do nhân dân lao động thiết lập lên, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân; phục vụ và chăm lo cho lợi ích, sự phồn vinh của người dân. Do đó, khi Nhà nước thu hồi đất của người dân để sử dụng vào bất kể mục đích gì mà làm phương hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ thì Nhà nước phải có bổn phận và nghĩa vụ bồi thường; iii) Xét về phương diện lý luận, thiệt hại về lợi ích của người sử dụng đất (SDĐ) là hậu quả phát sinh trực tiếp từ hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra. Vì vậy, Nhà nước phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho họ; iv) Nhà nước ta đã và đang xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”.
Điều này chỉ có thể thực hiện được khi Nhà nước biết tôn trọng và bảo hộ những quyền lợi chính đáng của người dân; v) Vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được xây dựng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước giao đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài và mở rộng các quyền năng cho người SDĐ. Như vậy, “kể từ đây quyền sử đất đã tách khỏi quyền sở hữu đất đai được chủ sở hữu đất đai chuyển giao cho người sử dụng đất thực hiện và trở thành một loại quyền về tài sản thuộc sở hữu của người sử dụng đất” hay nói Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 cách khác, “Quyền sở hữu đất đai thuộc về toàn dân do Nhà nước đại diện, còn quyền sử dụng đất thuộc sở hữu của người sử dụng đất”. Đặng Hùng Võ (2010) cho rằng: “Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai của nước ta chỉ mang tính thuật ngữ,. Quyền lợi và nghĩa vụ sử dụng đất ở nước ta không khác so với quyền lợi và nghĩa vụ của chủ sở hữu đất đai ở các nước”.
Như vậy, khi pháp luật đã thừa nhận quyền SDĐ là một loại quyền về tài sản của người SDĐ, thì khi Nhà nước phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho người SDĐ. Khái niệm bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 1. Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Để hiểu rõ bản chất của công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trước hết ta phải hiểu thế nào là bồi thường thiệt hại. Bồi thường thiệt hại có nghĩa là trả lại tương xứng giá trị hoặc công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì một hành vi của chủ thể khác, việc bồi thường này có thể là vô hình hay hữu hình, nó được thực hiện thông qua thỏa thuận giữa các chủ thể hoặc theo sự điều tiết của pháp luật.
Trong thực tiễn hình thành và phát triển của xã hội, hành vi gây thiệt hại thì phải bồi thường đây là chân lý cốt yếu nếu bị xâm phạm và bị thiệt hại là lợi ích cộng đồng được nhà nước bảo vệ. Bồi thường: là trả lại đầy đủ, tương xứng với sự mất mát hoặc sự vất vả, bồi thường bao gồm bồi thường thiệt hại và bồi thường công lao (Hoàng Phê, 2000). Theo Khoản 12 Điều 3 Luật Đất đai 2013: “Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất” (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2013). Bồi thường trong lĩnh vực đất đai có một số đặc trưng và nguyên tắc sau: - Đặc trưng về bồi thường trong lĩnh vực đất đai: + Vấn đề bồi thường chỉ đặt ra khi Nhà nước thu hồi đất của người SDĐ để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; mục đích phát triển kinh tế; Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 + Việc bồi thường cho người SDĐ xuất phát từ nhu cầu của xã hội, của cộng đồng; - Nguyên tắc bồi thường trong lĩnh vực đất đai: + Bồi thường về đất dựa trên khung giá đất do Nhà nước quy định tại thời điểm thu hồi đất; + Bồi thường thiệt hại về tài sản trên đất thực hiện theo giá thị trường.
Đối tượng được bồi thường: Không phải bất cứ người SDĐ nào bị Nhà nước thu hồi cũng được bồi thường mà chỉ những chủ thể SDĐ thỏa mãn các điều kiện do pháp luật đất đai quy định mới được Nhà nước bồi thường khi bị thu hồi đất. Hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất Hỗ trợ là một hành động thể hiện tinh thần đoàn kết tương thân, tương ái thông qua sự hỗ trợ về vật chất và tinh thần để giúp đỡ một thành viên hoặc một nhóm người trong xã hội có thể vượt qua những khó khăn hay những rủi ro mà họ gặp phải để sớm ổn định cuộc sống. Đây là một truyền thống văn hóa tốt đẹp của người Việt Nam thể hiện sự nhân văn đối với đồng loại. Hoạt động này được gọi là hỗ trợ.
Hỗ trợ là: Giúp thêm, góp thêm vào (Hoàng Phê, 2000). Có thể hiểu hỗ trợ là sự trợ giúp, giúp đỡ của cộng đồng nhằm san sẻ hoặc chia sẻ bớt một phần khó khăn, rủi ro mà một thành viên hoặc một nhóm người gặp phải trong cuộc sống. Hỗ trợ có thể phân loại thành hai dạng: hỗ trợ về vật chất và hỗ trợ về tình thần. Theo Khoản 14 Điều 3 Luật Đất đai (2013) quan niệm: “Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất và việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển”.
(Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2013) Nguyên tắc hỗ trợ: Căn cứ vào khó khăn thực tế, hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của người bị thu hồi đất và khả năng tài chính của Nhà nước để xem xét, ấn định mức hỗ trợ cho từng đối tượng, từng trường hợp cụ thể. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Đối tượng được hỗ trợ: Người SDĐ bị thu hồi đất gặp khó khăn sẽ được xem xét để hỗ trợ (không phân biệt đó là SDĐ hợp pháp hay không hợp pháp), tuy nhiên mức hỗ trợ sẽ không giống nhau giữa các đối tượng bị thu hồi đất. Tái định cư khi nhà nước thu hồi đất Điều 22, Hiến pháp (2013): “Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp”. Vậy nơi ở là một trong những quyền cơ bản của công dân.
Khi Nhà nước thu hồi đất ở của người SDĐ thì Nhà nước phải có trách nhiệm thực hiện tái định cư cho họ. Tái định cư được hiểu là: Đến một nơi nhất định để sinh sống lần thứ 2 (lại một lần nữa). (Hoàng Phê, 2000) Khoản 1,2,3, Điều 85 Luật Đất đai (2013) quy định: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm tổ chức lập và thực hiện dự án tái định cư trước khi thu hồi đất. Khu tái định cư tập trung phải xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, phù hợp với điều kiện, phong tục, tập quán của từng vùng, miền.
Việc thu hồi đất ở chỉ được thực hiện sau khi hoàn thành xây dựng nhà ở hoặc cơ sở hạ tầng của khu tái định cư. (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2013) Ở Việt Nam công tác tái định cư chưa thực hiện đúng được bản chất, việc tái định cư cho những hộ gia đình cá nhân bị thu hồi đất có đủ điều kiện để nhận được một suất tái định cư không chỉ tạo dựng cho người bị thu hồi đất nơi ở mới mà phải tạo dựng cho các đối tượng đó một nơi sinh sống mới. Nơi sinh sống mới là nơi mà họ có thể ở, hoạt động sản xuất, vui chơi giải trí tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ. Vai trò của công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 1.
Đảm bảo lợi ích công cộng Thông qua việc thu hồi đất Nhà nước tạo được một quỹ đất sạch cần thiết để phục vụ vào phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuât, đảm bảo an ninh quốc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 phòng, an sinh xã hội và phát triển kinh tế; phát triển các cơ sở kinh tế, các khu công nghiệp, các cơ sở sản xuất – kinh doanh, khu đô thị, khi vui chơi giải trí, công viên cây xanh. Qua đó làm tăng thêm khả năng thu hút đầu tư từ các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước, phục vụ phát triển kinh tế. Việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tốt làm tăng tiến độ thu hồi đất góp phần gián tiếp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng sản xuất nông nghiệp, tăng tỷ trọng sản xuất công nghiệp, dịch vụ. Khi diện tích đất sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, Nhà nước thực hiện các biện pháp hỗ trợ cho người nông dân bị mất đất sản xuất trong việc đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp, tìm kiếm việc làm mới.
Qua đó, góp phần rút bớt một lực lượng lao động ở nông thôn chuyển sang làm việc trong khu vực sản xuất phi nông nghiệp và dịch vụ. Đảm bảo giải quyết hài hòa lợi ích của Nhà nước và lợi ích của người bị thu hồi đất Việc thu hồi đất của Nhà nước đối với người SDĐ để sử dụng vào các mục đích khác nhau sẽ gây ra những thiệt hại và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của những người bị thu hồi đất.